Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012

Kỹ thuật nuôi gà ta thả vườn

Hướng dẫn

Chuẩn bị điều kiện nuôi


  • Chuồng trại:
    Chọn khu đất cao ráo, thoáng mát để cất chuồng gà. Nên cất chuồng theo hướng Đông hoặc Đông Nam để hứng được nắng sáng và tránh được nắng chiều.
    Nếu nuôi nhốt hoàn toàn, chú ý mật độ nuôi thích hợp (8 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên sàn, 10 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên nền).
    Nếu nuôi gà thả vườn,chuồng là nơi để tránh mưa nắng và ngủ đêm, mật độ vườn thả gà đủ là ít nhất 1 con/m2.
    Mặt trước cửa chuồng hướng về phía đông nam. Sàn chuồng làm bằng lưới hoặc tre thưa cách mặt đất 0,5 m để thông thoáng, khô ráo, dễ dọn vệ sinh.
    Rào chắn xung quanh vườn bằng lưới B40, lưới nilon, tre gỗ... tùy điều kiện nuôi của từng hộ. Ban ngày khô ráo thả gà ra sân, vườn chơi, buổi tối cho gà về chuồng.
    2:Lồng úm gà con:
    Kích thước 2m x 1 m cao chân 0,5 m đủ nuôi cho 100 con gà.
    Sưởi ấm cho gà bằng đèn (hai bóng 75W dùng cho 100 con gà).
    3:Máng ăn:
    Khi gà còn nhỏ (1-3 ngày tuổi) rải cám tấm trên giấy lót trong lồng úm cho gà ăn.
    Khi gà 4-14 ngày tuổi cho gà ăn bằng máng ăn cho gà con.
    Trên 15 ngày cho gà ăn máng treo.
    4:Máng uống:
    Đặt hoặc treo xen kẻ các máng uống với máng ăn trong vườn.
    Thay nước sạch cho gà 2-3 lần/ngày.
    5:Bể tắm cát, máng cát sỏi cho gà:
    Gà rất thích tắm cát.
    Đối gà nuôi chăn thả phải xây bể chứa cát, tro bếp và điểm sinh hoạt cho gà tắm. Kích thước bể dài 2 m, rộng 1 m, cao 0,3 m cho 40 gà.
    Đặt một số máng cát, sỏi hoặc đá nhỏ xung quanh nơi chăn thả để gà ăn, giúp gà tiêu hóa thức ăn tốt hơn.
    6:Dàn đậu cho gà:
    Gà có tập tính thích ngủ trên cao vào ban đêm để tránh kẻ thù và giữ ẩm cho đôi chân, tránh nhiễm bệnh. Do đó nên tạo một số dàn đậu cho gà ngủ trong chuồng.
    Dàn đậu làm bằng tre, gỗ (không nên làm bằng cây tròn vì trơn gà khó đậu). Dàn cách nền chuồng khoảng 0,5 m, cách nhau 0,3-0,4 m để gà khỏi đụng vào nhau, mổ nhau và ỉa phân lên nhau.
    Làm ổ đẻ cho gà để nơi tối. Một ổ đẻ cho 5-10 con gà mái.
    Vườn chăn thả: 1m2/1 con gà.


Chọn giống

  • 1
    Nuôi thịt: Chọn giống gà Tàu vàng, gà Đông Tảo, gà Nòi, gà Tam Hoàng, gà Lương Phượng.....
    Nuôi gà lấy trứng thương phẩm: Chọn những giống gà đẻ nhiều như gà Tàu Vàng, gà Tam Hoàng, gà BT1, gà Ri....
  • 2
    Chọn giống gà con:
    Chọn gà con càng đồng đều về trọng lượng càng tốt.
    Chọn những con nhanh, mắt sáng, lông bông, bụng gọn, chân mập.
    Tránh chọn những con gà khô chân, vẹo mỏ, khoèo chân, hở rốn, xệ bụng, lỗ huyệt bết lông, cánh xệ, có vòng thâm đen quanh rốn.
  • 3
    Chọn gà đẻ tốt:
    Chọn con có trọng lượng không quá thấp, không quá mập, lúc 20 tuần tuổi đạt 1,6 - 1,7 kg thì rất tốt.
    Đầu nhỏ, mỏ ngắn đều, mồng tích to, đỏ tươi.
    Mắt sáng, lông mượt xếp sát vào thân, bụng phát triển mềm mại.
    Hậu môn rộng màu hồng tươi và ẩm ướt
    Khoảng cách giữa xương chậu và xương ức rộng độ 3-4 ngón tay, giữa hai xương chậu rộng gần 2-3 ngón tay xếp lại.


Chăm sóc và nuôi dưỡng

  • 1
    Nên vận chuyển gà con vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh những ngày mưa bão hay áp thấp nhiệt đới. Đưa gà vào chuồng úm, cho gà uống nước pha Electrotyle hoặc Vitamine C, chỉ cho gà ăn tấm nấu hoặc tấm, bắp nhuyễn ngâm sau khi gà nở ít nhất là 12 giờ, tiếp tục cho ăn uống như thế đến 2 ngày. Sang ngày thứ 3 thì pha với lượng tăng dần thức ăn công nghiệp hoặc tự trộn phụ phế phẩm.
  • 2
    Trộn thuốc cầu trùng vào trong thức ăn cho gà từ ngày thứ 7 trở đi, dùng Rigecoccin 1 gr/10 kg thức ăn (hoặc dùng Sulfamid trộn tỷ lệ 5%).Thay giấy lót đáy chuồng và dọn phân mỗi ngày sạch sẽ.
  • 3
    Rửa máng ăn, máng uống sạch sẽ, quan sát tình trạng ăn uống đi đứng của gà, nếu thấy con nào buồn bã, ủ rủ cần cách ly ngay để theo dõi. Dùng bóng đèn tròn 75W úm cho 1m2 chuồng có che chắn để giữ nhiệt, tùy theo thời tiết mà tăng giảm lượng nhiệt bằng cách nâng hoặc hạ độ cao của bóng đèn.
  • 4
    Quan sát thấy nếu gà nằm tụ quanh bóng đèn là gà bị lạnh, tản xa bóng đèn là nóng, nằm tụ ở góc chuồng là bị gió lùa và gà đi lại ăn uống tự do là nhiệt độ thích hợp.Thắp sáng suốt đêm cho gà trong giai đoạn úm để phòng chuột, mèo và để gà ăn nhiều thức ăn hơn. Thường xuyên quan sát biểu hiện của đàn gà để kịp xử lý những bất thường xảy ra. Khi thời tiết thay đổi nên cho gà uống nước pha Electrolyte hoặc Vitamine C.
  • 5
    Do tập tính của gà thường uống nước cùng lúc với ăn, nên đặt máng ăn và máng uống cạnh nhau để gà được uống nước đầy đủ mà không uống nước dơ bẩn trong vườn.
  • 6
    Nếu là gà nuôi thịt thì không cần cắt mỏ. Đối với gà đẻ để giảm hiện tượng cắn mổ nhau thì nên cắt mỏ (chỉ cắt phần sừng của mỏ) vào tuần 6-7.
    Không nuôi nhiều cở gà trong 1 chuồng, trước khi nuôi đợt mới cần phải sát trùng toàn bộ chuồng trại, dụng cụ.

Thức ăn cho gà

  • 1
    Gà là một trong số con vật nhạy cảm, nên tuyệt đối không cho gà ăn thức ăn bị ôi mốc, nhiễm nấm, thối rửa.
  • 2
    Có thể sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc tận dụng các phụ phế phẩm công nông nghiệp, sao cho đảm bảo các thành phần: Năng lượng, đạm, khoáng và vitamine. Khống chế lượng thức ăn và đảm bảo chất lượng thức ăn đối với gà hậu bị để gà không bị mập mỡ làm giảm sản lượng trứng.
  • 3
    Đối với gà thả vườn thì vấn đề khoáng và vitamine không quan trọng bằng gà nuôi nhốt, vì chúng sẽ tự tìm kiếm theo nhu cầu của cơ thể.
  • 4
    Sau giai đoạn úm có thể cho gà ăn thêm rau xanh. Nên nuôi thêm trùn đất và giòi là nguồn cung cấp đạm dồi dào cho gà.
  • 5
    Ngày đầu tiên chỉ cho gà uống nước, ăn tấm hoặc bắp nhuyễn. Thức ăn mỗi lần rải một ít để thức ăn luôn thơm ngon kích thích tính thèm ăn của gà. Những ngày kế tiếp tập dần cho gà ăn sang thức ăn công nghiệp. Cho gà ăn nhiều bữa trong ngày, ăn tự do.
  • 6
    Nếu sử dụng máng treo để cho gà phải thường xuyên theo dõi điều chỉnh độ cao của máng để gà ăn một cách thoải mái và tránh rơi vãi thức ăn.
  • 7
    Nước uống phải sạch và đầy đủ cho gà uống, gà sống lâu hơn nếu thiếu thức ăn hơn thiếu nước.


Phòng bệnh

  • 1
    Vệ sinh phòng bệnh:
    -Thức ăn tốt.
    -Nước sạch.
    -Con giống có khả năng chống đỡ với bệnh tật cao.
    -Chuồng nuôi sạch.
    -Quanh chuồng nuôi phải phát quang.
    -Thực hiện tốt qui trình thú y về vệ sinh phòng bệnh.
  • 2
    Phòng bằng Vaccine:
    -Chỉ dùng khi đàn gia cầm khỏe.
    -Lắc kỹ vaccine trước và trong khi dùng.
    -Vaccine mở ra chỉ sử dụng trong ngày, dư phải hủy bỏ.
    -Dùng vitamin để tăng bồi dưỡng cho gia cầm.
  • 3
    Phòng bằng thuốc:
    -Bệnh ở đường tiêu hóa: Oxyteracilin, chloramphenicol...
    -Bệnh đường hô hấp: Tylosin, Tiamulin,...
  • 4
    Phòng một số bệnh:
    -1 ngày, bệnh Marek, Rumboro, dịch tả, phương thức: nhúng ngập mũi.
    -10 ngày, bệnh Gumboro, phương thức: nhỏ mũi.
    -10 ngày, bệnh đậu, phương thức: xuyên da cánh.
    -21 ngày, bệnh dịch tả, phương thức: nhỏ mũi, uống.
    -28 ngày, bệnh Gumboro, phương thức: nhỏ mũi, uống.
    -56 ngày, bệnh dịch tả, phương thức: uống.
    -105 ngày, bệnh CRD, phương thức: chích bắp.

Một số bệnh thường gặp ở gà

  • 1
    Bệnh cầu trùng:
    Nguyên nhân:
    -Bệnh lan truyền do gà ăn phải thức ăn, uống nước có lẫn các noãn bào. Bệnh dễ lây truyền từ chuồng này sang chuồng khác, nơi này sang nơi khác do người ta, súc vật... vô tình mang các noãn bào này đi xa. Tốc độ sinh sản nhanh của các cầu trùng khiến bệnh dễ bộc phát.
    -Bệnh cầu trùng thường làm tăng tỷ lệ tử vong cho gà nhỏ, gà phát triển chậm, yếu, dễ bị bội nhiễm các bệnh khác.
    -Mức độ gây bệnh tùy thuộc vào phương thức nuôi, nuôi trên sàn lưới ít mắc bệnh hơn nuôi trên nền.
    Triệu chứng: Gà ủ rũ, xù lông, chậm chạp, phân đỏ hoặc sáp nhiều khi có máu tươi. Gà đẻ vỏ trứng mỏng, tỷ lệ đẻ giảm.
    Bệnh tích: Manh tràng sưng to, chân đầy máu. Ruột sưng to. Trong đường tiêu hóa có dịch nhầy và máu.
    Phòng bệnh:
    -Vệ sinh phòng bệnh chặt chẽ, đặc biệt không để nền chuồng, chất đọng làm chuồng ẩm ướt.
    -Dùng thuốc trộn vào thức ăn hay pha nước uống cho gà.
    -Sử dụng một trong các loại thuốc sau (dùng trong 3 ngày): Anticoc 1gr/1 lít nước, Baycoc 1ml/ 1 lít nước.
    Trị bệnh: Tăng liều gấp đôi liều phòng
  • 2
    Bệnh thương hàn (Salmonellosis):
    Nguyên nhân: Do vi khuẩn gây ra, bệnh có thể truyền trực tiếp từ gà mẹ sang gà con và cũng có thể nhiễm gián tiếp qua thức ăn, nước uống bị nhiễm mầm bệnh.
    Triệu chứng: Gà ủ rũ, phân trắng loãng, hôi thối. Gà đẻ trứng giảm, trứng méo mó, mào tái nhợt nhạt hoặc teo.
    Bệnh tích:
    -Gà con: Gan sưng, có điểm hoại tử trắng, niêm mạc ruột viêm loét lan tràn.
    -Gà đẻ: Gan có điểm hoại tử trắng, túi mật sưng to, buồng trứng đen tím, trứng non dị hình méo mó.
    Phòng bệnh: Bằng các biện pháp vệ sinh tổng hợp. Có thể dùng kháng sinh để phòng bệnh:
    -Oxytetracyclin: 50-80 mg /gà/ngày, dùng trong 5 ngày.
    -Chloramphenical: 1 gr/5-10 lít nước, dùng trong 2-3 ngày.
    Trị bệnh: Tăng liều gấp đôi so với liều phòng bệnh.
  • 3
    Bệnh dịch tả (Newcastle disease):
    Nguyên nhân: Bệnh do virus gây, lây lan mạnh. Chủ yếu lây qua đường tiêu hóa, tuy nhiên bệnh cũng có thể lây qua dụng cụ chăn nuôi. Gà mọi lứa tuổi đều mắc bệnh.
    Triệu chứng: Thường biểu hiện ở 2 thể: cấp tính và mãn tính.
    Thể cấp tính:
    -Bệnh xuất hiện đột ngột, gà chết nhanh không biểu hiện rõ triệu chứng. Thường rụt cổ, ngoẹo đầu vào cánh, ủ rũ, nhắm mắt mê man bất tỉnh, sau đó chết.
    -Khó thở, nhịp thở tăng, hắt hơi (con vật há mồm, vươn cổ thở).
    -Tiêu chảy phân màu xanh - trắng, diều căng đầy hơi.
    -Một số con chảy dịch nhờn ở mắt, mũi. Tích, mào tím xanh.
    -Nếu sau 4-5 ngày gà không chết, sẽ xuất hiện triệu chứng thần kinh: Gà vận động tròn theo một phía, đi đứng không vững.
    -Gà giảm đẻ, vỏ trứng mềm.Tỷ lệ chết từ 50-90%.
    Thể mãn tính: Những gà bị bệnh kéo dài sẽ chuyển sang thể mãn tính. Triệu chứng chủ yếu ở đường hô hấp, thở khò khè, kém ăn, giảm đẻ.... Gà trở thành vật mang trùng. Tỷ lệ chết 10%.
    Bệnh tích: Biến đổi tùy thuộc vào thời gian kéo dài bệnh, lứa tuổi và độc lực của virus. Dạ dày tuyến xuất huyết, có dịch nhầy ở ruột già.
    Phòng bệnh: Chủ yếu là bằng vaccine.
    Trị bệnh: Dùng các thuốc tăng sức đề kháng: Vitamix, vit-plus,...
  • 4
    Bệnh Gumboro:
    Nguyên nhân: Do virus. Gà thường mắc bệnh ở 4-8 tuần tuổi.
    Triệu chứng:
    -Phân lúc đầu loãng, trắng, nhớt nhầy, sau loãng nâu.
    -Gà sút nhanh, run rẩy.
    -Tỷ lệ nhiễm bệnh rất nhanh: 2-5 ngày toàn đàn bị nhiễm.
    -Tỷ lệ chết: 10-30%.
    -Gà thịt thường phát bệnh sớm hơn (ở giai đoạn 20-40 ngày).
    Bệnh tích:
    -Cơ đùi xuất huyết đỏ thành vệt.
    -Bệnh mới phát túi Fabricius sưng to.
    -Ngày thứ 2: Thận sưng nhạt màu, ruột sưng có nhiều dịch nhầy.
    -Ngày thứ 3: Xuất huyết lấm tấm hoặc thành vệt cơ đùi, cơ ngực.
    -Ngày thứ 5,6,7 túi Fabricius teo nhỏ, cơ đùi, cơ ngực tím bầm.
    Phòng bệnh bằng vệ sinh:
    -Định kỳ tiêu độc sát trùng chuồng trại thường xuyên mỗi tháng và sau mỗi đợt nuôi.Phòng bằng vaccine.
    Trị bệnh: Chưa có thuốc đặc trị. Chỉ dùng thuốc tăng sức đề kháng vật nuôi.
    -Vitamix: 2 gr/1 lít nước.
    -Vitamine C: 1 gr/ 1 lít nước.
    -Dexa (0,5 gr): 1 viên/ 3-4 con.
    -Dùng trong 3 ngày liên tục.

Chủ Nhật, 8 tháng 1, 2012

Những lưu ý khi sử dụng vôi trong nuôi trồng thủy sản

Những lưu ý khi sử dụng vôi trong nuôi trồng thủy sản 
Trong nuôi trồng thủy sản, việc sử dụng vôi trong các công đoạn sản xuất là thường xuyên, từ khâu cải tạo đến quản lý môi trường nước trong ngưỡng thích hợp, tạo điều kiện cho đối tượng nuôi phát triển tốt. Nhằm giúp người nuôi có những kiến thức cơ bản và sử dụng vôi có hiệu quả, bài viết xin giới thiệu các dạng vôi hiện nay và cách sử dụng trong nuôi trồng thủy sản:




I. Các dạng vôi
Có nhiều dạng vôi được sử dụng cơ bản là làm tăng khả năng đệm của nước ao nuôi và tăng pH. Trộn 10% vôi trong nước cất và đo pH của dung dịch sẽ xác định được vôi sử dụng là loại vôi gì.
1. Vôi nông nghiệp/ đá vôi hoặc vỏ sò xay (CaCO3)
Các dạng vôi này thường là đá vôi hay vỏ sò nghiền. Chất lượng của chúng cũng khác nhau. Ví dụ như khi có trộn lẫn đất.
Vôi thường được khuyến cáo sử dụng là loại vôi có chứa từ 75% CaCO3 trở lên. Đá vôi mịn là thích hợp nhất cho ao nuôi tôm. Loại vôi này được sử dụng để làm tăng khả năng đệm của nước và có thể được sử dụng với số lượng lớn vì nó không gây ảnh hưởng nhiều đến pH của nước.
Dung dịch 10% vôi trong nước cất phải có pH khoảng 9.
Lượng vôi thường bón là 100 – 300 kg/ha/lần.
2. Đá vôi đen (CaMg(CO3)2) 
Đây là loại đá vôi nghiền khác có chứa ma-giê (Mg). Loại vôi này được sử dụng chủ yếu để tăng khả năng đệm của nước và cung cấp ma-nhê. Giống như vôi nông nghiệp, loại vôi này cũng ít ảnh hưởng đến pH của ao.
Dung dịch 10% vôi trong nước cất phải có pH từ 9 đến 10.
Lượng vôi thường bón là 100 – 300 kg/ha/lần.
Đá vôi đen, vôi nông nghiệp, đá vôi, bột vỏ sò còn được gọi là vôi chứa can xi.
3. Vôi tôi hay vôi ngậm nước (Ca(OH)2) 
Loại vôi này được sản xuất bằng cách nung đá vôi ở nhiệt độ cao 800 – 900oC. Sau khi nung thì cho nước vào khi đá vôi còn nóng để làm cho vôi mịn ra. Vôi tôi được dùng để làm tăng pH nước hoặc pH đất.
Dung dịch 10% vôi trong nước cất phải có pH từ 11.
Lượng vôi thường bón là 50 – 100 kg/ha/lần.
Vì vôi tôi có thể gây ảnh hưởng đáng kể đến pH nước nên tránh bón vôi cho ao vào buổi chiều khi pH ao thường cao nhất.
4. Vôi sống/ vôi nung hay vỏ sò nung (CaO) 
Loại vôi này cũng được sản xuất bằng cách nung đá vôi ở nhiệt độ cao nhưng không cho nước vào. Dạng vôi hoạt tính cao này có ảnh hưởng rất lớn đến pH của nước nên không dùng để bón cho những ao đang nuôi tôm mà chỉ nên sử dụng để điều chỉnh pH đất khi chuẩn bị ao. Dung dịch 10% vôi trong nước cất phải có pH =12.
II. Cách bón vôi
Sau khi dọn sạch chất thải cần cho một ít nước vào ao để rửa trôi các mảnh vụn đồng thời cũng để kiểm tra độ pH của nước. Lượng nước này nên để qua đêm rồi tháo cạn. Có thể lặp lại như thế nhiều lần cho tới khi độ pH ổn định ở mức trên 7.
Lượng vôi sử dụng cho ao sau lần tháo rửa cuối cùng tùy thuộc vào từng ao. Vôi dùng trong trường hợp này nên là vôi nông nghiệp (CaCO3) hay đá vôi đen (CaMg(CO3)2) để tạo pH và độ kiềm thích hợp nhất. Nên hạn chế lượng vôi bón vào giai đoạn chuẩn bị ao vì vôi sẽ được bón thêm trong quá trình nuôi. Việc bón vôi trước khi bơm nước vào ao bất tiện ở chỗ nó sẽ làm giảm hiệu quả của việc bón bột tẩy sau này để ngăn ngừa các sinh vật khác vào ao nuôi tôm. Nếu nước ao có độ kiềm và pH cao (>80 mg CaCO3/l và pH>8) thì không cần phải bón bất kỳ loại vôi nào trong giai đoạn này.
Chỉ nên bón vôi tôi (Ca(OH)2) hay vôi sống (CaO) trong trường hợp đất ao quá phèn (pH<5). Nếu dùng vôi tôi và vôi sống để tăng pH đất ao thì pH nước tăng lên đáng kể khi lấy nước vào ao, và điều này đặc biệt thể hiện rõ khi hệ đệm nước ao kém. Hiện tượng pH cao cũng sẽ kéo dài đáng kể và khó điều chỉnh trong ao nuôii thay nước ít.
Lượng vôi bón khuyến cáo dùng trong giai đoạn chuẩn bị tùy thuộc vào pH của đất. Độ pH của đất có thể đo bằng máy đo pH đất hoặc có thể phơi khô đất trong bóng râm rồi cho vào nước cất với khối lượng bằng nhau, quậy kỹ cho tan đều và để lắng một đêm, sau đó đo độ pH của dung dịch. Theo cách này, có thể sử dụng dung dịch đo pH hoặc giấy đo pH.
Lượng vôi bón khuyến cáo dùng trong giai đoạn chuẩn bị ao.
 
Độ pH của đất     Lượng vôi nông nghiệp CaCO3 (kg/ha)         Lượng vôi tôi Ca(OH)2(kg/ha)

                                                             
>6                                          <1000                                                               <500
5-6                                         <2000                                                               <1000
<6                                          <3000                                                               <1500
Vôi cần được rải đều khắp đáy ao kể cả bờ ao. Một phần lớn vôi nên rải ở khu vực cho tôm ăn và các chỗ còn ướt của đáy ao. Việc bón vôi thêm được thực hiện khi lấy nước vào ao.

Nguồn TTKNKN Bình Định