Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ thuật nuôi cá lóc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ thuật nuôi cá lóc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 10 tháng 12, 2011

Kỹ thuật nuôi cá lóc trên bạt nylon

Hiện nay có nhiều hình thức nuôi cá lóc như: nuôi thâm canh trong ao đất,nuôi cá lóc trong mùng lưới, nuôi trong bể xi măng, nuôi cá lóc trên bạtnilon…
Nuôi cá lóc trên bạt nilon không cần phải nhiều diện tích đất như đối vớinuôi trong ao đất hay trong mùng lưới chỉ cần khoảng 20 – 30 m2 đất là có thể xây dựng được công trình nuôi. Ngoài ra nuôi cá lóc trong bạt nilon thì vần đề quản lý dịch bệnh, chất lượng nước cũng dễ hơn so với nuôi trong ao đất hoặc mùng lưới.
Chọn vị trí xây dựng công trình nuôi: nơi nuôi phải gần sông, nguồn nước phải chủ động, không bị ô nhiễm, đất phải cứng
Thiết kế: Sau khi đã chọn được vị trí thích hợp thì tiến hành đào xuống khoảng 0.5 – 0.7 m, sau đó dùng cây cấm xung quanh để gia cố bờ và giữbạt có thể dùng lưới B40 hoặc căng dây chì xung quanh các cây và tiến hành lót bạt tốt nhất là nên căng dây chì nhằm hạn chế tổn thương cho cá khi cánhảy va đập vào thành bạt. Lưu ý khi trải bạt cần phải có val thoát nước để thay nước định kỳ hoặc khi cần thiết
Kỹ thuật nuôi:
Chọn cá giống
            - Hiện nay cá lóc giống đã cho sinh sản nhân tạo vì vậy về nguồn giống không gặp khó khăn tuy nhiên cũng cần phải chọn con giống khỏe mạnh nhằm hạn chế tỉ lệ hao hụt và bệnh trong quá trình nuôi. Khi chọn cá giống cần lưu ý một số điều sau đây:
- Chọn giống có kích cở tương đối đồng đều, màu sắc trong sáng, phản ứng nhanh nhẹn.
- Cá giống không bị dị hình, không bị xây xác, quan sát bên ngoài không có dấu hiệu của bệnh: nấm, mất nhớt, ký sinh trùng………..
- Khi bắt giống cần tránh làm xây xác cá, vận chuyển giống tốt nhất là vào sáng sớm hoặc chiều mát.
Thả giống, mật độ nuôi:
- Thả giống: tốt nhất là vào sáng sớm hoặc chiếu mát hạn chế gây sốc cho cá. Trước khi thả cá cần tắm cá qua nước muối 3% trong 3 – 5 phút để loại ký sinh trùng và nấm bám bên ngoài cơ thể cá. Ngoài ra trước khi thả cần phải ngâm cá trong bể nuôi khoảng 15 phút để cho cá giống quen dần nhiệt độ trong bể nuôi nhằm hạn chế tỷ lệ hao hụt.
- Mật độ nuôi: Cá lóc là loài cá cá cơ quan hô hấp phụ vì vậy có thểnuôi cá với mật độ cao tuy nhiên khi thả nuôi cũng cần phải thả với mật độ vừa phải nhằm hạn chế bệnh và nhẹ khâu chăm sóc cá trong mô hình này mật độ thả nuôi từ 50 – 100 con/m2
Chăm sóc và quản lý
- Khi mới bắt cá về không nên cho ăn liền, khoảng 2 – 3 ngày đầu cho cá giống ăn ít cho cá quen dần sau đó mới cho cá theo đúng khẩu phần ăn tính theo trọng lượng thân.
- Cách cho ăn nên cho ăn bằng sàn để dễ kiểm tra thức ăn và quản lý tốt môi trường nước trong bể nuôi
- Thức ăn của cá lóc thời gian đầu là cá, tép tạp……xay nhuyễn có thể trộn thêm cám, một số vitamin đặc biệt là Vitamin C sau đó cho ăn với khẩu phần là 5 – 10 % trọng lượng thân ngày cho ăn 02 lần. Khi chuẩn bị thức ăn cần chú ý phải xử lý thức ăn kỹ để hạn chế nội ký sinh và một số mầm bệnh có trong thức ăn tươi sống có thể lây nhiễm cho cá. Sau khoảng 1 – 2 tháng nuôi khi cá đã lớn thì có thể cắt thức ăn cho vừa miệng cá và cho ăn với khẩu phần 5 – 7% trọng lượng thân ngày cho ăn 02 lần. Thường xuyên bổ sung Vitamin vào thức ăn cho cá ăn nhằm tăng sức đề kháng cho cá. Khi thời tiết thay đổi đột ngột hoặc vào những ngày trời mưa thì cần phải giảm khẩu phần ăn lại.
- Khi cho ăn cần chú ý quan sát hoạt động của cá để kịp thời có hướng xử lý khi cá có biểu hiện bất thường.
- Định kỳ tắm ký sinh và xổ giun, sán cho cá.
- Định kỳ thay nước lúc cá còn nhỏ 01 tuần thay nước 01 lần khi cálớn 01 tuần thay nước 02 lần hoặc thay nước khi thấy cần thiết, khi thay nước cần phải chú ý nguồn nước khi cấp vào không bị nhiễm các hóa chất, thuốc trừ sâu…….
Một số bệnh thường gặp trên cá lóc nuôi trong bạt nilon
Bệnh nội ký sinh  
- Tác nhân gây bệnh là các loài giun đầu móc Acanthocephala, sán dây Bothricephalus và giun tròn Philometra, chúng thường ký sinh trên các loài cá ăn động vật, nhất là cá lóc, cá lóc bông.
- Bệnh giun sán nội ký sinh trong ruột làm cá chậm lớn, gầy yếu, ảnh hưởng đến tăng trưởng của cá. Đôi khi gây tắc ruột, tắc ống dẫn mật hoặc thủng ruột và làm cá chết.
Phòng, trị bệnh:
- Định kỳ vệ sinh ao, bè cá, có thể dùng các loại thuốc tẩy giun sán trộn vào thức ăn cho cá ăn
Bệnh sán lá đơn chủ
- Do sán lá 16 móc Dactylogyrus và sán lá 18 móc Gyrodactylus ký sinh ở da, mang của cá. Tác hại nghiêm trọng nhất là đối với cá hương và cágiống. Cá bị ký sinh thường nổi đầu và tập trung nơi có dòng nước chảy. Mang bị viêm và tiết nhiều nhớt, tia mang rời ra, cá không hô hấp được và chết.
Phòng, trị bệnh:
- Không nên thả cá mật độ quá dày. Khi cá bị bệnh, dùng thuốc tím (KMnO4) liều lượng 20g/m3 tắm cho cá trong 15-30 phút trước khi thả vào bènuôi, hoặc dùng muối 2-3% tắm cho cá trong 5-10 phút. Có thể dùng nước ôxy già (H2O2) nồng độ 150 - 200 ppm tắm cho cá giống trong 1 giờ, sục khí mạnh trong khi tắm. Thường xuyên theo dõi chế độ ăn để điều chỉnh cho thích hợp.
Bệnh đẹn ở cá lóc
- Biểu hiện khi cá mắc bệnh là cá bỏ ăn hoặc ăn rồi nhả ra
- Phòng và trị bệnh: Cần giữ môi trường nước trong bể nuôi sạch, khi cá ăn không hết còn thức ăn thừa thì vớt ra, điều chỉnh khẩu phần ăn cho phù hợp, trị dùng lá xoang hoặc cỏ mực đăm vắt lấy nước tạt vào bể sau đó tiến hành thay nước cho bể nuôi
Bệnh lỡ loét ở cá lóc
- Nguyên nhân do vi khuẩn gây ra
- Biểu hiện bên ngoài cơ thể cá có những vết lỡ loét
- Phòng bệnh: nuôi mật độ vừa phải, giữ vệ sinh cho bể nuôi, định kỳ tắm ký sinh cho cá, bổ sung Vitamin vào thức ăn cho cá ăn.
- Trị bệnh: sử dụng kháng sinh để trị với liều lượng 20g Sulfa + 5g Oxytetraxycline/100kg cá trộng vào thức ăn, trong quá trình sử dụng kháng sinh cũng cần phải bổ sung thêm Vitamin C với lượng 20mg/1kg thức ăn để tăng sức đề kháng cho cá
            Ngoài ra còn một số bệnh do vi khuẩn khác (Edwarsiella tarda, Aeromonas, Pseudomonas…..) tuy nhiên đây là một số bệnh thường gặp nhất đối với mô hình này.

Nuôi cá lóc trong bể lót bạt - tạo vùng nguyên liệu ổn định

Từ nguồn kinh phí hỗ trợ của Sở KH&CN An Giang, Trung tâm Giống thủy sản tỉnh phối hợp Khoa Thủy sản-Trường đại học Cần Thơ thực hiện dự án “Triển khai mô hình cá lóc trong bể lót bạt ở tỉnh An Giang” tại các huyện Thoại Sơn, Phú Tân, Tri Tôn, Tịnh Biên, An Phú và TP.Long Xuyên.

Qua thử nghiệm, mô hình đã đạt được kết quả khả quan và đang được nhân rộng… Năm 2010, Trung tâm Giống thủy sản An Giang đã thực hiện dự án triển khai mô hình nuôi cá lóc trong bể lót bạt. Dự án triển khai nhằm khắc phục các trở ngại về sự nhiễm bẩn nguồn nước do nuôi cá lóc ở vèo đặt trên kênh, sông, cá nuôi có tỷ lệ sống thấp,…
Đặc biệt, mô hình này phù hợp với người nghèo ở vùng nông thôn, người có ít đất sản xuất. Chỉ với một đơn vị diện tích đất sản xuất nhỏ hay diện tích mặt nước ao nuôi giới hạn (ít hơn 80-100 m2/hộ) xa nguồn nước cấp và thay nước… thì đều ứng dụng được, để tăng thu nhập. Do đó, dự án là một trong những mô hình sản xuất có khả năng tạo ra sản phẩm sinh khối cao, góp phần bảo vệ tốt môi trường nước và nâng cao thu nhập cho người nuôi cá.
Nông dân rất phấn khởi khi được tiếp cận công nghệ nuôi mới, đã tham gia các buổi tập huấn kỹ thuật và hướng dẫn thực hành các mô hình điểm. Qua đó, đã xây dựng 2 mô hình sản xuất giống cá lóc và 34 mô hình nuôi thương phẩm cá lóc đen trong bể lót bạt. Trong đó, có 30 mô hình nuôi bằng thức ăn cá tạp, 2 mô hình nuôi bằng thức ăn công nghiệp và 2 mô hình nuôi thức ăn bán công nghiệp (tự chế). Sau 4-5 tháng nuôi, năng suất bình quân đạt từ 18-30 kg/m2. Cá biệt, ở huyện Tịnh Biên và An Phú có hộ nuôi đạt 30-50 kg/m2/mô hình.
Ông Phan Quốc Khánh (xã Vĩnh Trung, Tịnh Biên) và ông Nguyễn Văn Sal (xã Quốc Thái, An Phú) nói rằng: “Không ngờ thử nghiệm mô hình hiệu quả quá, cá tui nuôi 5 tháng đạt năng suất gần 51kg/m2”.
Ưu điểm của mô hình là có thể nuôi quy mô nhỏ, những hộ nuôi ít vốn tận dụng diện tích xung quanh nhà xây dựng bể nuôi cải thiện thu nhập cho gia đình và khắc phục được một số nhược điểm của các mô hình nuôi khác.
Lợi nhuận từ mô hình này từ 1 -6 triệu đồng, tùy thuộc vào kỹ năng chăm sóc, quản lý và kinh nghiệm của hộ nuôi. Trung tâm Giống thủy sản tỉnh cho biết, các yếu tố thủy lý hóa môi trường nước đều nằm trong khoảng thích hợp cho cá nuôi tăng trưởng và phát triển như nhiệt độ dao động từ 27,9- 29,60C, pH dao động từ 6,9-7,2, oxy hòa tan từ 3.1-4.5 ppm và hàm lượng đạm tổng dao động từ 4.2-9.5 ppm.
Trong quá trình sinh sản, tỷ lệ thành thục khi nuôi vỗ là 80%, tỷ lệ cá tham gia sinh sản 100%, tỷ lệ trứng thụ tinh 80-90% và số lượng cá giống thu được là 55.886 con, tỷ lệ sống của cá nuôi thương phẩm dao động từ 55,3-71,5%, năng suất cá đạt từ 360-602 kg/bể 15m2 và trọng lượng của cá nuôi lúc thu hoạch dao động 382-560 gram/con, tỷ suất lợi nhuận từ 15-20%. Từ kết quả trên, huyện Thoại Sơn, Tịnh Biên và thành phố Long Xuyên đang nhân rộng mô hình này.
Để phát triển dự án và nhân rộng mô hình nuôi, Trung tâm Giống thủy sản An Giang đã xây dựng quy trình kỹ thuật nuôi cá lóc trong bể lót bạt và áp dụng triển khai dự án “Phát triển mô hình nuôi cá lóc trong bể lót bạt bằng thức ăn công nghiệp và bán công nghiệp” cho 4 huyện: Thoại Sơn (Vĩnh Khánh, Vĩnh Chánh), Châu Thành (Vĩnh Lợi, Vĩnh Bình), Phú Tân (Tân Hòa, Bình Thạnh Đông) và Tịnh Biên (Núi Voi, Vĩnh Trung).
Chị Ngô Thị Hạnh, Trưởng phòng Kỹ thuật Trung tâm Giống thủy sản An Giang, Chủ nhiệm đề tài cho biết, mô hình nuôi cá lóc thương phẩm trong bể lót bạt này sẽ góp phần tạo sự đa dạng và phát triển thủy sản, tạo ra vùng nguyên liệu cá lóc thương phẩm cung cấp ổn định cho các cơ sở làm khô, mắm ở TX. Châu Đốc, Thoại Sơn và Chợ Mới. Ý nghĩa hơn, tạo nhiều việc làm, nâng cao thu nhập cho nông dân, nhất là các hộ nghèo, thiếu vốn. (Báo An Giang 11/9, Hạnh Châu)  

Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2011

Kỹ thuật nuôi cá lóc thương phẩm

I. Nuôi trong giai đặt ở ao đất
1. Mùa vụ
Mùa vụ nuôi phụ thuộc vào việc sản xuất con giống. Nguồn cá giống phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, thông thường nguồn cá giống xuất hiện tập trung vào tháng 7 – 8. Do vậy, mùa vụ nuôi cũng tập trung vào những tháng này.
2. Kích cỡ giống và mật độ nuôi
Cần chọn lựa giống có kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh, không bị sây sát, không bị mất nhớt. Cá giống cần đạt kích cỡ 20 – 30g/con. Mật độ thả 70 – 90 con/m2.
3. Thức ăn cho cá
Cá lóc là loài ăn động vật, cá có thể sử dụng nhiều loại thức ăn như: cá, tép, ếch nhái….Trong quá trình nuôi có thể tập cho cá quen dần với thức ăn tự chế với nguồn nguyên liệu là cá tạp, tấm, cám, bắp….hoặc thức ăn công nghiệp. Khẩu phần ăn cho cá có thể định lượng theo bảng sau:
Bảng: Khẩu phần thức ăn cho cá lóc (% so với trọng lượng cá thả nuôi)
Kích cỡ cá giống (g/con)
Khẩu phần thức ăn (%)
< 10
10 – 12
10 – 20
8 – 10
20 – 30
5 – 8
30 – 50
5 – 8
50 – 100
5 – 8
> 100
5
4. Cho cá ăn
Trong giai đoạn đầu thả giống, do kích thước cá còn nhỏ, thức ăn cần được xay nhuyễn, khi cá lớn thức ăn không cần xay nhuyễn và được cung cấp cho cá trong giai hoặc ao nuôi qua sàn ăn.
Máy xay thức ăn cho cá

(Cá tạp làm thức ăn)

5. Chăm sóc và quản lý
Việc chăm sóc và quản lý được tiến hành thường xuyên như kiểm tra hệ thống dây- lưới, theo dõi hoạt động của cá, vệ sinh giai….
II. Nuôi cá lóc trong ao đất
1. Chuẩn bị ao
Diện tích ao nuôi trung bình từ 100 – 1.000m2. Ao nuôi được cải tạo và vệ sinh trước khi nuôi. Dùng lưới hoặc đăng tre chắn xung quanh để phòng tránh cá nhảy ra ngoài. Mật độ thả cá 30 – 50 con/m2.
2. Cho cá ăn và quản lý
Thức ăn dùng cho cá nuôi trong ao đất tương tự như thức ăn cho cá nuôi trong giai. Thức ăn được đặt trong sàn cho cá ăn.
III.  Nuôi trên bể lót bạt
1. Chuẩn bị bể
Tùy theo diện tích của mỗi hộ gia đình mà xây dựng bể có quy mô khác nhau.
- Vị trí đặt bể nên bố trí gần sông để thuận tiện cho việc thay nước, nên xây dựng bể lót bạt để chi phí đầu tư thấp và thuận tiện cho việc thay đổi thiết kế sau này nhất là chuyển đổi đối tượng nuôi khác.
- Bể thường được xây dựng theo hình chữ nhật, chiều cao bể khoảng 1,2m. Dùng tràm để làm các trụ, rào đăng tre xung quanh, trải bạt nhựa màu tối để tạo điều kiện sống gần giống như tự nhiên và sử dụng lưới cước rào trên mặt bể để tránh cá nhảy ra ngoài. Đáy bể nên thiết kế sao cho nghiêng về một phía để dễ dàng tháo nước. Đặt cống thoát nước sát đáy bể và đầu cống có lưới chắn để không cho cá ra ngoài.
- Mực nước trung bình trong bể là từ 0,8 – 1m.
- Cần có hệ thống máy bơm nước để cung cấp nước khi cần thay nước.
2. Cho ăn và quản lý
Thức ăn dùng cho cá nuôi trong ao đất giống như thức ăn cho cá nuôi trong giai và ao đất. Thức ăn được đặt trong sàn ho cá ăn.
3. Xử lý môi trường nước trong bể nuôi
Cá lóc nuôi trên bể môi trường nước rất dễ nhiễm bẩn cần được thay nước thường xuyên. Lúc cá còn nhỏ số lần thay nước sẽ ít hơn so với cá lớn. Định kỳ xử lý vôi cho nguồn nước trong bể nuôi từ 7 - 10 ngày/lần với 2 - 3kg vôi/100m3. Trong quá trình nuôi nếu có hiện tượng nhiễm nấm, ký sinh trùng nên dùng các hóa chất diệt ký sinh trùng như Fresh water ( Cty Vemedim, Cần Thơ)….liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất để xử lý rất hiệu quả. 
IV. Nuôi ghép
1. Nuôi ghép với cá Rô phi
Dùng cá Rô phi làm thức ăn cho cá lóc. Mật độ thả 0,5 – 1 con/m2. Qua 4 tháng nuôi cá giống cỡ 80 – 100g/con đạt trung bình 350g/con. Tính trung bình cứ 4kg cá Rô phi con được 1 kg cá lóc thịt.
2. Nuôi ghép với cá nuôi khác
Có thể nuôi ghép cá lóc với cá mè, trôi, chép,.....Thức ăn và liều lượng cho ăn tuỳ thuộc vào mật độ nuôi cũng như tỉ lệ ghép với loài cá khác sao cho đảm bảo cá lóc tăng trưởng tốt và không ảnh hưởng đến sinh trưởng của cá khác.
VI. Phòng và trị bệnh cho cá
- Cá ương giai đoạn dưới 25 ngày tuổi: Bệnh thường gặp là bệnh do ký sinh trùng   Để phòng bệnh cần định kỳ sát trùng ao nuôi 15 ngày/lần. Sử dụng vôi bột với liều lượng 3 – 4 kg/100m3, vôi được hòa tan, lóng trong và lấy nước tạt khắp ao hoặc sử dụng Fresh water (Cty Vemedim Cần Thơ).
- Cá ương giai đoạn trên 25 ngày tuổi: Bệnh thường gặp là bệnh viêm ruột do giai đoạn này cá chuyển thức ăn. Rửa thức ăn bằng muối hột, trộn thuốc Sunfadimezin: 2g + Vitamine C: 1g /1kg thức ăn cho cá ăn liên tục 3 ngày mỗi tháng. Định kỳ tạt nước vôi khắp ao.
- Cá giai đoạn nuôi thịt: Bệnh thường gặp là bệnh viêm ruột, ghẻ lở, rận cá. Sử dụng Sunfadimezin: 20g + Oxytetra 5g/100kg cá. Dùng liên tục trong 6 ngày. Định kỳ tạt nước vôi khắp ao. 
VII. Thu hoạch
Sau 5 – 6 tháng nuôi cá đạt trọng lượng trung bình 0,8Kg – 1kg/con. Trước khi thu hoạch 1 – 2 ngày không nên cho cá ăn nhằm hạn chế cá chết trong quá trình vận chuyển. Khi thu hoạch có thể dùng vợt để hạn chế sây sát.
Tháo nước ra chỉ còn 40 – 50 cm, lấy lưới kéo đánh bắt dần. Sau đó tát cạn để thu họch toàn bộ.