Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến thức nuôi cá. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến thức nuôi cá. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 8 tháng 1, 2012

Những lưu ý khi sử dụng vôi trong nuôi trồng thủy sản

Những lưu ý khi sử dụng vôi trong nuôi trồng thủy sản 
Trong nuôi trồng thủy sản, việc sử dụng vôi trong các công đoạn sản xuất là thường xuyên, từ khâu cải tạo đến quản lý môi trường nước trong ngưỡng thích hợp, tạo điều kiện cho đối tượng nuôi phát triển tốt. Nhằm giúp người nuôi có những kiến thức cơ bản và sử dụng vôi có hiệu quả, bài viết xin giới thiệu các dạng vôi hiện nay và cách sử dụng trong nuôi trồng thủy sản:




I. Các dạng vôi
Có nhiều dạng vôi được sử dụng cơ bản là làm tăng khả năng đệm của nước ao nuôi và tăng pH. Trộn 10% vôi trong nước cất và đo pH của dung dịch sẽ xác định được vôi sử dụng là loại vôi gì.
1. Vôi nông nghiệp/ đá vôi hoặc vỏ sò xay (CaCO3)
Các dạng vôi này thường là đá vôi hay vỏ sò nghiền. Chất lượng của chúng cũng khác nhau. Ví dụ như khi có trộn lẫn đất.
Vôi thường được khuyến cáo sử dụng là loại vôi có chứa từ 75% CaCO3 trở lên. Đá vôi mịn là thích hợp nhất cho ao nuôi tôm. Loại vôi này được sử dụng để làm tăng khả năng đệm của nước và có thể được sử dụng với số lượng lớn vì nó không gây ảnh hưởng nhiều đến pH của nước.
Dung dịch 10% vôi trong nước cất phải có pH khoảng 9.
Lượng vôi thường bón là 100 – 300 kg/ha/lần.
2. Đá vôi đen (CaMg(CO3)2) 
Đây là loại đá vôi nghiền khác có chứa ma-giê (Mg). Loại vôi này được sử dụng chủ yếu để tăng khả năng đệm của nước và cung cấp ma-nhê. Giống như vôi nông nghiệp, loại vôi này cũng ít ảnh hưởng đến pH của ao.
Dung dịch 10% vôi trong nước cất phải có pH từ 9 đến 10.
Lượng vôi thường bón là 100 – 300 kg/ha/lần.
Đá vôi đen, vôi nông nghiệp, đá vôi, bột vỏ sò còn được gọi là vôi chứa can xi.
3. Vôi tôi hay vôi ngậm nước (Ca(OH)2) 
Loại vôi này được sản xuất bằng cách nung đá vôi ở nhiệt độ cao 800 – 900oC. Sau khi nung thì cho nước vào khi đá vôi còn nóng để làm cho vôi mịn ra. Vôi tôi được dùng để làm tăng pH nước hoặc pH đất.
Dung dịch 10% vôi trong nước cất phải có pH từ 11.
Lượng vôi thường bón là 50 – 100 kg/ha/lần.
Vì vôi tôi có thể gây ảnh hưởng đáng kể đến pH nước nên tránh bón vôi cho ao vào buổi chiều khi pH ao thường cao nhất.
4. Vôi sống/ vôi nung hay vỏ sò nung (CaO) 
Loại vôi này cũng được sản xuất bằng cách nung đá vôi ở nhiệt độ cao nhưng không cho nước vào. Dạng vôi hoạt tính cao này có ảnh hưởng rất lớn đến pH của nước nên không dùng để bón cho những ao đang nuôi tôm mà chỉ nên sử dụng để điều chỉnh pH đất khi chuẩn bị ao. Dung dịch 10% vôi trong nước cất phải có pH =12.
II. Cách bón vôi
Sau khi dọn sạch chất thải cần cho một ít nước vào ao để rửa trôi các mảnh vụn đồng thời cũng để kiểm tra độ pH của nước. Lượng nước này nên để qua đêm rồi tháo cạn. Có thể lặp lại như thế nhiều lần cho tới khi độ pH ổn định ở mức trên 7.
Lượng vôi sử dụng cho ao sau lần tháo rửa cuối cùng tùy thuộc vào từng ao. Vôi dùng trong trường hợp này nên là vôi nông nghiệp (CaCO3) hay đá vôi đen (CaMg(CO3)2) để tạo pH và độ kiềm thích hợp nhất. Nên hạn chế lượng vôi bón vào giai đoạn chuẩn bị ao vì vôi sẽ được bón thêm trong quá trình nuôi. Việc bón vôi trước khi bơm nước vào ao bất tiện ở chỗ nó sẽ làm giảm hiệu quả của việc bón bột tẩy sau này để ngăn ngừa các sinh vật khác vào ao nuôi tôm. Nếu nước ao có độ kiềm và pH cao (>80 mg CaCO3/l và pH>8) thì không cần phải bón bất kỳ loại vôi nào trong giai đoạn này.
Chỉ nên bón vôi tôi (Ca(OH)2) hay vôi sống (CaO) trong trường hợp đất ao quá phèn (pH<5). Nếu dùng vôi tôi và vôi sống để tăng pH đất ao thì pH nước tăng lên đáng kể khi lấy nước vào ao, và điều này đặc biệt thể hiện rõ khi hệ đệm nước ao kém. Hiện tượng pH cao cũng sẽ kéo dài đáng kể và khó điều chỉnh trong ao nuôii thay nước ít.
Lượng vôi bón khuyến cáo dùng trong giai đoạn chuẩn bị tùy thuộc vào pH của đất. Độ pH của đất có thể đo bằng máy đo pH đất hoặc có thể phơi khô đất trong bóng râm rồi cho vào nước cất với khối lượng bằng nhau, quậy kỹ cho tan đều và để lắng một đêm, sau đó đo độ pH của dung dịch. Theo cách này, có thể sử dụng dung dịch đo pH hoặc giấy đo pH.
Lượng vôi bón khuyến cáo dùng trong giai đoạn chuẩn bị ao.
 
Độ pH của đất     Lượng vôi nông nghiệp CaCO3 (kg/ha)         Lượng vôi tôi Ca(OH)2(kg/ha)

                                                             
>6                                          <1000                                                               <500
5-6                                         <2000                                                               <1000
<6                                          <3000                                                               <1500
Vôi cần được rải đều khắp đáy ao kể cả bờ ao. Một phần lớn vôi nên rải ở khu vực cho tôm ăn và các chỗ còn ướt của đáy ao. Việc bón vôi thêm được thực hiện khi lấy nước vào ao.

Nguồn TTKNKN Bình Định

Thứ Tư, 14 tháng 12, 2011

Phòng trị bệnh cho cá bằng thảo mộc

Hỏi: Chi phí đầu vào của người nuôi cá ngày càng cao do giá thức ăn, thuốc, hoá chất liên tục tăng. Mặt khác, chất lượng cá giống suy giảm, dịch bệnh nhiều nên bắt buộc nông dân phải dùng thuốc, hoá chất đề phòng trị, điều này càng làm cho phí nuôi tăng 



 lên và có thể gây mất an toàn vệ sinh thực phẩm. Vậy hỏi có biện pháp nào phòng trị bệnh cá với chi phí thấp và tạo ra sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng không?

Trả lời: Nghề nuôi cá nước ngọt đã và đang cung cấp cho thị trường một lượng lớn thực phẩm, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, đem về ngoại tệ cho đất nước và giảm áp lực khai thác thủy sản tự nhiên. Tuy nhiên, hiện nay nhu cầu của thị trường là tạo ra các sản phẩm chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đồng nghĩa với việc dùng các hoá chất, kháng sinh trong phòng trừ bệnh cá phải rất hạn chế. Vì vậy, việc dùng các cây thảo mộc tự nhiên có xung quanh chúng ta trong phòng trị bệnh cá là một giải pháp hiệu quả, bền vững, giúp tạo ra các thực phẩm an toàn và ít tốn chi phí.

Sau đây, tôi xin giới thiệu một số loại cây thảo mộc đã được các nhà khoa học nghiên cứu và được một số bà con nông dân sử dụng hiệu quả:
Cây sài đất. (Ảnh: Trí Quang)
1. Lá xoan (Meliaazedarach L)Còn có tên là cây sầu đâu, sầu đông, xoan trắng, cây xuyên luyện, cây dốc hiên thuộc loại cây thân gỗ, vỏ xù xì, rụng lá vào mùa đông, ra hoa, lá, quả vào mùa xuân. Vỏ và lá xoan có vị đắng, ngâm dưới nước có màu đen. Có tác dụng diệt trùng mỏ neo và trùng bánh xe đạt kết quả tốt.

Cách dùng: Cành lá xoan non bó thành bó ngâm trong ao nuôi cá đang có bệnh trùng mỏ neo, trùng bánh xe, cũng có thể ngâm trong lồng nuôi cá ở phía đầu nguồn nước với lượng 150 – 200kg lá xoan/1.000m2 ao có mực nước 1,5 – 2m hoặc 20 – 25kg lá xoan/lồng 8m3 đến khi thấy lá xoan bị hoai mục thì vớt cành ra khỏi ao; Có thể dùng lá xoan để phòng bệnh cho cá bằng cách trong quá trình nuôi định kỳ 15 ngày ngâm lá xoan trong ao một lần với liều lượng 100kg cành lá xoan/ 1000m2 ao; Có thể bón lót xuống ao với liều 0,3kg/m3 trước khi thả cá vào ao ương 3 ngày có thể phòng và trị ký sinh trùng thuộc ngành nguyên sinh động vật như: Trichodina, Cryptobia ký sinh trên cá hương, cá giống.

2. Lá đu đủ tía (Ricinus communis L):

Có tên khác là dầu ve (vì hạt có các vân như viên bi ve), cây tù ma. Là cây sống lâu năm, thường được trồng bằng hạt, hoặc mọc hoang ở các bãi ven sông. Quả thầu dầu có nhiều gai mềm (như gai quả chôm chôm), hạt có vỏ cứng màu đỏ tía, mỗi quả 3 – 4 hạt, hạt dùng để ép dầu. Lá thầu dầu có chất đắng, thường dùng để chữa bệnh loét mang, đốm đỏ ở cá.

Cách dùng: Lấy lá thầu dầu bó thành bó ngâm xuống ao với lượng 250 – 300kg lá thầu dầu/ha ao nước sâu 1,5 – 2m. Đối với lồng nuôi cá ngâm 15 – 20kg lá thầu dầu/8–10m3 lồng. Có thể dùng lá đu đủ tía để phòng bệnh cho cá bằng cách trong quá trình nuôi định kỳ 15 ngày ngâm lá đu đủ tía trong ao một lần với liều lượng 15kg cành lá đu dủ tía/1000m2 ao.

3. Rau sam (Portulaca Oleracea L):

Cây thấp, có nhiều nhánh, thân cây có màu đỏ nhạt, lá hình bầu dục hơi dầy, hoa có màu vàng mọc ở đầu cành, có thể làm rau luộc, ăn hơi có vị chua. Rau sam thường dùng chữa bệnh viêm ruột do vi khuẩn cho cá trắm cỏ.

Cách dùng: Rửa rau bằng nước sạch rồi rửa lại bằng nước muối 3%, sau đó thả rau vào khung cho cá ăn, mỗi ngày cho ăn một lần, liên tục trong 5 – 7 ngày với 1,5 – 3 kg rau/100kg cá. Đối với cá giống, cần băm nhỏ rau rắc đều trên mặt ao.Chú ý để cá thật đói rồi cho ăn rau sam. Có thể dùng rau sam để phòng bệnh cho cá bằng cách trong quá trình nuôi định kỳ 10 ngày cho cá ăn một lần với liều lượng 1kg rau sam/ 100kg cá .

4. Tỏi (Allium sativum L)

Thành phần kháng khuẩn của tỏi chủ yếu là chất alixin (C6H10OS2), alixin là loại chất kháng khuẩn mạnh, có tác dụng với nhiều loại vi khuẩn như: thương hàn, phó thương hàn, lị, tả, trực khuẩn, bạch cầu, vi khuẩn gây thoái rửa.

Cách dùng: Dùng tỏi trị bệnh viêm ruột của cá do vi khuẩn gây ra mỗi ngày dùng 50g củ tỏi nghiền nát dùng cho 10 kg cá ăn liên tục trong 5 – 7 ngày. Tỏi dùng trị bệnh đường ruột của tôm nuôi (bệnh phân trắng, ăn mòn vỏ kitin …) dùng 10-15 g tỏi tươi/kg thức ăn tôm/ngày, nghiền nát hoà với nước trộn đều với thức ăn, mỗi tháng cho ăn một đợt 5 ngày liên tục.

Năm 1993, Phòng Bệnh Thủy sản Viện Nuôi trồng Thủy sản I kết hợp với phòng dược liệu - Viện Sinh thái tài nguyên sinh vật đã dùng bột tỏi khô bào chế với một số cây thuốc: cỏ nhọ nồi, sài đất, chó đẻ răng cưa … thành thuốc chửa bệnh đốm đỏ, xuất huyết, nấm mang. Kết quả thuốc đã phòng trị được bệnh trên 90%.

5. Cây cỏ mực (Eclipta prostrata L):
Loại cây thường mọc ở ven bờ ruộng, xung quanh các nghĩa trang, có hoa màu trắng, lá nhọn. Lá cỏ mực dùng để rà miệng cho trẻ sơ sinh, trừ đẹn, sạch miệng. Cây cỏ mực kết hợp với lá trầu dùng để trị bệnh ký sinh trùng cho cá.

Cách dùng: Thay nước mới cho ao sau đó dùng 10g cỏ mực, 10g lá trầu đem giả nát vắt lấy nước cho thêm 3g dầu mực trộn đều với 1 kg thức ăn, cho cá ăn từ 1 – 3 lần/ ngày.

6. Cây nghể: (Polygonum hydropiper L. Persicaria hydropiper).

 Là loài cỏ mọc hoang dại ở nơi ẩm thấp (thường thấy ở các đầm lầy) sống quanh năm, thân cây có nhiều nhánh, lá hình lưỡi mác, có hoa đỏ mọc thành bông ở đầu cành hay kẽ lá. Cây có vị cay nóng, hắc. Dùng chữa bệnh viêm ruột và bệnh loét mang, có hiệu quả nhất là cá giống.

Cách dùng: Lấy thân cây và lá băm nhỏ nấu kỹ lấy nước, sau đó trộn với thức ăn cho cá ăn. Liều lượng 3kg thân lá nghế tươi/100kg cá giống, cho cá ăn liên tục 3 – 6 ngày. Cũng có thể dùng lá nghể khô xay thành bột trộn với thức ăn cho cá, cứ 1 – 2kg nghế khô/100kg cá giống.

Cây cỏ nhọ nồi. (Ảnh: Trí Quang)

7. Cây sòi (Sapium sebiferum (L) Roxb)

Cây sòi còn có tên khác là: ô cữu, ô thụ quả, ô du, thác tử thụ. Cây sòi cao có nhựa, ra hoa vào mùa hè và chín vào mùa thu. Sòi thân màu xám, thân mọc so le, cuống lá dài 3-7cm, phiến lá hình quả trám dài dài 3-9 cm, lá nhọn, hai mặt đều màu xanh, hoa mọc thành bông ở kẻ lá dài 5-10cm.Trong cây sòi có chất Pholoraxetophenol 2- 4 dimethyl etec có khả năng diệt khuẩn. Dùng lá sòi để trị bệnh thoái rửa mang, tráng đầu ở cá.

Cách dùng: Phòng bệnh lấy cành bó thành bó nhỏ cho xuống ao; Để trị bệnh cần bón xuống ao với nồng độ 6 ppm (6g cành lá sòi phơi khô/m3 nước). Thường dùng 1kg cành lá sòi khô (hoặc 4kg tươi) ngâm vào 20kg vôi sống 2% trong một đêm, sau đó đun sôi 10 phút, pH trên 12 rồi bón xuống nước.

8. Cây cỏ sữa lá nhỏ (Euphorbia thymifolia Buron) 
Trong thân và lá có Cosmosiin (C21 H20O10) chừng 0,037 %, trong rễ cây có Taracerol (C30H50O) toàn thân cây cỏ sữa có ancaloit. Theo Copacdinxki, 1947 chất nhựa mủ của cây cỏ sữa gây hỏng niêm mạc và gây độc với cá.
Theo tài liệu nước ngoài, cây cỏ sữa có phổ kháng khuẩn rộng, có tác dụng ngưng máu, trung hoà độc tố. Dùng toàn thân cây để trị bệnh viêm ruột, thoái hoá mang cá do vi khuẩn gây ra.

Liều dùng: 50g cây cỏ sữa khô hoặc 200 cây tươi được giã thành bột + 20 gram muối cho 10kg trọng lượng cá ăn trong một ngày, ăn liên tục 3 ngày.

9. Cây xuyên tâm liên: Andrographus panicullata (Burmif.f)

Cây xuyên tâm liên có tác dụng: giải độc, thanh nhiệt, tiêu thủng, ức chế vi khuẩn, tăng cường hiện tượng thực bào của tế bào bạch cầu.

Cách dùng: Dùng trị bệnh viêm ruột cá trắm cỏ. Dùng toàn thân cây xuyên tâm liên khô 1kg hay 1,5kg cây tươi cho 50kh cá ăn liên tục trong 5-7ngày.

10.Cây sài đất (Weledia calendulacea (L). Less)

Trong cây sài đất có tinh dầu, nhiều muối vô cơ, đặc biệt có chất Lacton gọi là Wedelolacton. Công thức hoá học: C16H10O7 với tỷ lệ 0,05%.
Năm 1992, Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I đã thư nghiệm trên vi khuẩn Aeromonas hydrophyla gây bệnh nhiêm trùng xuất huyết đốm đỏ ở cá trắm cỏ nuôi lồng, đường kính vòng mẫn cảm đối vơi dung dịch chiết từ cây sài đất từ 11-20mm. Kết quả tác dụng của các chiết xuất từ Sài đất đều có tác dụng với 6 loài vi khuẩn (Vibrio parahaemolyticus, V. harveyi, V. alginolyticus, Aeromonas hydrophila, Edwardsiella tarda và Hafnia alvei) gây bệnh trên cá nước ngọt và nước mặn.

Hiện nay, cây Sài đất được phơi khô nghiền thành bột, phối chế thành thuốc trị bệnh cá. Cách dùng tươi: 3,5-5kg giã lấy nước trộn với thức ăn cho 100kg cá/ngày, ăn trong 7 ngày liên tục.

11.Cây cau (Areca catechu L)
Hoạt chất chính trong hạt cau là 4 Ancaloit: Arecolin (C8H13NO2), Arecaidin (C7H11NO2), Guracin (C6HgNO2), Guvacolin (C7H11NO2). Trong hạt cau Arecolin chiếm 0,1-0,5% Oxy nguyên tử oxy hoá tế bào ký sinh trùng làm tê liệt thần kinh của gian sán, làm tê liệt cả cơ trơn nên gian sán không bám được vào thành ruột và bị đẩy ra ngoài.

Cách dùng: Theo Bùi Quang Tề, hạt cau có thể sùng chửa bệnh giun tròn (Spinitectus clariasi) ký sinh trong ruột cá với liều sử dụng 4hạt cau/kg cá/ngày. Ăn liên tục 3 ngày. Trị bệnh sán dây Bothriocephalus gowkongensis ký sinh trong ruột cá trắm cỏ. Liều dùng 1hạt cau/2kg cá trắm cỏ, ăn liên tục 7 ngày.

12. Hạt bí ngô (Cucurbita pepo L)


Thành phần hoá học chưa được khẳng định. Nhưng qua thực nghiệm, hạt bí ngô có tác dụng làm tê liệt phần giữa của giun sán, từ đó giun sán bị đào thải ra ngoài.

Cách dùng: nghiền hạt bí ngô  thành bột trộn với thức ăn cho cá với tỷ lệ 1:2 cho ăn liên tục trong 3 ngày.

13. Dây thuốc cá (Derris spp)

Dây thuốc cá có hoạt chất chính là Rotenon, loại hoạt chất này chỉ độc đối với động vật máu lạnh, không độc với người, giáp xác nhưng rất độc với cá. nghiền rễ cây thuốc cá với nước với liều 1ppm làm cá bị say, nếu liều cao hơn làm cá chết.

Cách dùng: Ở nước ta, thường dùng rễ cây thuốc cá để cá diệt tạp trong ao ương nuôi tôm giống, tôm thương phẩm. Đập dập cây thuốc cá cho ra chất nhựa trắng, để nước trong ai sâu 15-20cm, tạt nước ngâm rễ cây thuốc cá, sau 5-10 cá tạp nổi lên hết. Liều thường dùng là 3-5kg rễ cho 1.000 m3 nước./.





DÙNG THUỐC NAM TRỊ BỆNH CHO CÁ
Nguyễn Thị Thu Hà
TT khuyến nông lâm ngư
Nghề nuôi trồng thủy sản nói chung trong đó nghề  nuôi cá nước ngọt
đã và đang cung cấp cho thị trường hàng trăm tấn cá và lợi nhuận thu được
ngày một cao góp phần giúp nhiều hộ nông ngư dân trên địa bàn Tỉnh xoá
đói giảm nghèo và phát triển kinh tế.
Bên cạn đó, hàng năm người vẫn bị nuôi thiệt hại một số lượng lớn cá
do bị dịch bệnh khiến một số người nuôi thua lỗ nặng nề. Dịch bênh thường
xuất hiện trên một số loài cá nước ngọt như Mè, trắm, Trê, Rô phi tập trung
từ tháng 2 đến tháng 4 âm lịch và các thời điểm giao mùa như mùa thu sang
mùa đông ...
 Để giúp cho người nuôi có thêm một số kinh nghiệm trong phòng trị bệnh
cho cá bằng các loại cây thuốc nam rất có hiệu quả, dễ kiếm mà  chi phí
thấp.
1. Lá xoan ( sầu đông, thầu đâu):
Dùng lá xoan để diệt kí sinh trùng ở cá đều
mang lại hiệu quả cao.
Cách dùng:
- Lấy lá xoan non bó thành từng bó, ngâm
trong ao cá đang bị bệnh trung mỏ neo và trùng
bánh xe. Nên ngâm ở đầu nguồn nước hoặc 4
góc ao với lượng 150 – 200 kg cành, lá
xoan/1000m
2
 ao đến khi thấy lá xoan bị hoai mục thì vớt cành ra khỏi ao.
- Có thể dùng lá xoan để phòng bệnh cho cá bằng cách trong quá trình
nuôi định kỳ 15 ngày ngâm lá xoan trong ao một lần với liều lượng 100kg
cành lá xoan/ 1000m
2
 ao.
2. Lá đu đủ tía ( Thầu dầu tía):
Lá có chất đắng, thường dùng để chữa
bệnh loét mang, đốm đỏ ở cá.
Cách dùng:
- Lấy lá đu đủ tía bó thành từng bó ngâm
dưới ao với lượng 25 – 30kg lá/1000m
2
, ao
sâu 1,5 – 2m.
Có thể dùng lá đu đủ tía để phòng bệnh
cho cá bằng cách trong quá trình nuôi định
kỳ 15 ngày ngâm lá đu đủ tía trong ao một
lần với liều lượng 15kg cành lá đu dủ tía/
1000m
2
 ao.
Ảnh: Lá sầu đông
Ảnh: Cây đu đủ tía.3. Rau sam:
Là loại cây thấp, có nhiều nhánh, thân
màu đỏ nhạt, lá hình bầu dục, hơi dày, hoa
vàng, có thể dùng làm rau ăn. Rau sam
thường dùng chữa bệnh viêm ruột do vi
khuẩn cho cá trắm cỏ.
Cách dùng :
- Rửa rau bằng nước sạch rồi rửa lại
bằng nước muối 3%, sau đó thả rau vào
khung cho cá ăn, mỗi ngày cho ăn một lần,
liên tục trong 5 – 7 ngày với 1,5 – 3 kg
rau/100kg cá. Đối với cá giống, cần băm nhỏ rau rắc đều trên mặt ao.Chú ý
để cá thật đói rồi cho ăn rau sam.
- Có thể dùng rau sam để phòng bệnh cho cá bằng cách trong quá trình
nuôi định kỳ 10 cho cá ăn một lần với liều lượng
1kg rau sam/ 100kg cá .
4. Tỏi :
Dùng tỏi để chửa bệnh đường ruột cho cá.
Cách dùng :
- Nghiền nát tỏi, trộn với thức ăn tinh, liều
lượng 0,5 – 1kg tỏi trộn với thức ăn/100kg cá,
cho ăn liên tục trong 5 – 7 ngày.
5. Cây cỏ mực :
Loại cây thường mọc ở ven bờ ruộng, xung
quanh các nghỉa trang, có hao mau trắng, lá
nhọn. Lá cỏ mực dùng để rà miệng cho trẻ sơ
sinh, trừ đẹn, sạch miệng. Cây cỏ mực kết hợp
với lá trầu dùng để trị bệnh ký sinh trùng cho
cá.
Cách dùng :
- Thay nước mới cho ao sau đó dùng 10g
cỏ mực, 10g lá trầu đem giả nát vắt lấy nước
cho thêm 3g dầu mực trộn đều với 1 kg thức
ăn, cho cá ăn từ 1 – 3 lần/ ngày.
Có thể thấy các loại lá như lá sầu đông, cỏ mực, rau sam,...chúng
nhường như ở xung quanh chúng ta  và thường gặp hàng ngày nhưng nó lại
có tác dụng rất tốt trong việc phòng và trị bệnh cho cá nuôi.


Mùa mưa lũ: sử dụng hoá chất nào phòng bệnh cho cá nuôi?
Các dạng bệnh ký sinh trùng trên cá nuôi (đặc biệt là bệnh ngoại ký sinh trùng) thường phát sinh nhiều trong mùa mưa, lũ. Lý do là trong mùa mưa, nhiệt độ môi trường nước thường xuống thấp- nhất là vào những lúc thời tiết âm u, mưa lũ kéo dài và hàm lượng chất hữu cơ thường tập trung cao trong nước do sự rửa trôi của vật chất hữu cơ xuống các ao, hầm, sông, kênh, rạch. Đây là yếu tố tạo điều kiện cho các ký sinh trùng như: Trùng bánh xe, trùng mỏ neo, trùng quả dưa, sán lá ... phát sinh và phát triển trong môi trường nước.
Để phòng trị các dạng bệnh ngoại ký sinh trùng trên cá, ngư dân thường sử dụng các loại  hoá chất như: Formol, thuốc tím, phèn xanh (sulphat đồng), vôi, muối..
Nhưng hiện nay, trước xu hướng hạn chế sự ô nhiễm môi trường nước do các hoá chất độc hại cùng với phương châm “phòng bệnh hơn trị bệnh”, rất mong bà con nông dân thực sự quan tâm đến công tác phòng bệnh và chỉ sử dụng các loại hoá chất không làm ô nhiễm môi trường nước (vì hoá chất Formol, thuốc tím, phèn xanh độc hại làm ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng, cần hạn chế sử dụng- đặc biệt là hạn chế trong mô hình nuôi cá bè và cá đăng quần, và việc sử dụng các loại hoá chất trên thường gây sốc cho cá trong quá trình sử dụng).
Hai loại hoá chất nên dùng để phòng bệnh cho cá nuôi (thường gặp nhất là các  bệnh ngoại ký sinh trùng) trong mùa mưa lũ, đó là muối  (NaCl) và vôi nông nghiệp (CaCO3)
+ Vôi và muối cho vào túi vải treo ở 4 gốc nơi cho cá ăn và nên bắt đầu treo khi cho cá ăn (mỗi loại một túi cho mỗi góc) với liều lượng:
- Nuôi bè và đăng quần: Vôi: 2-5 kg/túi, muối 10-20kg/túi.
- Nuôi ao hầm: Vôi: 1-2kg/túi, muội-10kg/túi
+ Liều lượng trên có thể thay đổi trong phạm vi cho phép tuỳ theo qui mô, diện tích nuôi  và thể tích nước của đàn cá nuôi. Định kỳ 10-15 ngày thực hiện một lần. Nếu phát hiện đàn cá nuôi có biểu hiện giảm ăn, nhào lộn dữ dội, trên da và mang có nhiều nhớt, cá bệnh chết với số lượng ít và tăng không đáng kể thì thực hiện việc treo vôi và muối trong 3 ngày liên tục (trong mô hình nuôi ao hầm thì mỗi ngày thay 10-15% thể tích nước ao). Đồng thời đem mẫu cá bệnh nhờ cán bộ thuỷ sản hỗ trợ trong việc chuẩn đoán bệnh cá .
Bên cạnh đó, có thể sử dụng thêm lá xoan, dây giác, cỏ mực đập giập bọc lại bằng lưới cước treo ở đầu bè hoặc ở chỗ cho ăn với liều lượng mỗi lần treo từ 5-10kg để nâng cao hiệu quả phòng ngừa các bệnh ngoại ký sinh trùng trong mùa mưa, lũ.
WAG - Theo NNVN


VIDEO ONLINE được cung cấp bởi:
Phòng Thông tin - Tuyên truyền 
Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Quốc gia




Bạn đọc có nhu cầu xem tại nhà vui lòng liên hệ với TTKN hoặc Agriviet.Com

Một số bệnh cá và cách phòng trị




Link: http://agriviet.com/home/threads/5125-Mot-so-benh-ca-va-cach-phong-tri#ixzz1gaI6IgzQ

Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2011

Nguồn nước tốt để ương nuôi cá giống

Nguồn nước tốt để ương nuôi cá giống

-Thế nào là nguồn nước tốt để ương nuôi cá giống? Muốn có nguồn nước tốt để ương nuôi cá giống thì phải làm gì?
Nước quán xuyến toàn bộ hoạt động  của nghề nuôi cá, không những là môi trường sống của cá, mà còn của các loài thuỷ sinh vật thức ăn của cá như rong, tảo, động vật phù du, giun ít tơ, ấu trùng muỗi lắc, trai, hến, ốcv.v…



Nguồn nước được gọi là tồt để ương nuôi cá giống, đảm bảo được yếu tố sau:
Yếu tố hoá học: Trước hết nguồn nước không có các yếu tố độc hại đối với cá: “Các yếu tố độc hại có thể có ở dạng rắn, khí hoặc muối hoà tan trong các kim loại nặng, yếu tố phóng xạ, thuốc trừ sâu và diệt cỏ, kể cả độ pH, hàm lượng Cl, SO4, Fe tổng cộng, lượng tiêu hao ôxy và các hợp chất khác có trong nước thải công nghiệp v.v…
Yếu tố dinh dưỡng như: N, P, K… cũng cấn đảm bảo trong nước ao hồ ở những giới hạn thích hợp để cá và thuỷ sinh vật khác sinh sản và phát triển bình thường.
Yếu tố sinh vật học: Nguốn nước tốt để nuôi cá là nguồn nước đã phát triển phong phú khu hệ thuỷ sinh vật (thức ăn tốt của cá), hạn chế và phòng trừ được các địch hại, không cho các ký sinh trùng gây bệnh cho cá lẫn trong nước.
Yếu tố vật lý khác: Nguồn nước cần được tiếp xúc nhiều với ánh nắng trực tiếp của mặt trời. Độ đục của nước phù sa và của các kênh mương có nhiều hạt sét lơ lửng làm cho tảo và các thuỷ sinh vật kém phát triển, nguồn thức ăn của cá bị giảm sút… Vì vậy, nước để ương nuôi cá giống cần có độ trong vừa phải (từ 20-30cm).
-Muốn có nguồn nước tốt để ương nuôi cá, bạn cần lưu ý:
Địa điểm: Địa điểm  đào ao ương nuôi cá, trước hết phải gần nguồn nước sạch. Tốt nhất là gần nguồn nước tự nhiên (hồ chứa, sông…). Nếu sử dụng nước thuỷ lợi, nước sông giang… phải dự trữ lượng nước chủ động riêng để dùng khi cần thiết.
-Kết hợp xây dựng các hệ thống tháp nước, bể lọc… để có nguồn nước sạch ương nuôi cá. Biện pháp đơn giản là xây dựng hệ thống ao chứa nước có nuôi thả bèo hợp lý. Vai trò chủ yếu của việc lọc sạch nước này là do các loài tảo cỡ nhỏ với số lượng lớn và đặc biệt là trai nước ngọt( một con trai nước ngọt mỗi ngày lọc trung bình 12 lít nước, có khi tới 60-70 lít). Càn gây nuôi các “máy lọc sống” này trong ao chứa để triệt để sử dụng chúng vào việc lọc sạch nước.
Trong các ao chứa nước không được bón phân, nhất là các nguồn phân hữu cơ. Bởi vì, ở các ao chứa sẽ diễn ra quá trình hấp thụ các kim loại nặng bởi chất hữu cơ, kết tủa và lắng đọng các chất vẩn vô cơ và hữu cơ, vô vơ hoá các chất hữu cơ không bền vững, làm tăng hàm lượng ôxy hoà tan, huỷ diệt các vi khuẩn hoại sinh và gây bệnh của cá.
Khu vực ương nuôi cá cần xây dựng một chế độ kiểm tra, bảo vệ và sử dụng nguồn nước hợp lý, thường xuyên đôn đốc nhắc nhở mọi người cùng thực hiện. Coi nhẹ việc bảo vệ nguồn nước, nhất định se gặp nhiều khó khăn trong việc ương nuôi cá, nhất là cá giống.


MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ CHẤT THẢI AO NUÔI CÁ TRA ẢNH HƯỞNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG NƯỚC Ở AN GIANG
CÁCH TRÍCH DẪN SAI, VÀ CSO NHIỀU TÀI LIỆU TRÍCH DẪN NHƯNG KHÔNG THẤY TRONG DANH MỤC NÊN TÔI KHÔNG XÁC THỰC ĐƯỢC TÍNH KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ. CẦN CHỈNH SỬA TRƯỚC KHI TÔI XEM TIẾP
1. Giới thiệu
Hiện nay, “nuôi trồng thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang trở thành một trong những nguồn chủ lực, có vị trí quan trọng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, thúc đẩy kinh tế phát triển. Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ nuôi trồng thủy sản, nhất là thủy sản nước ngọt đã gây ô nhiễm ngày càng cao. Trong quá trình nuôi thì chất thải trong ao nuôi được thải ra sông, kênh mương và lượng cá càng lớn thì chất thải càng nhiều như nước thải, bùn chứa phân các loại thủy sản, thức ăn dư thừa bị thối rữa, chất tồn dư của các loại hóa chất dẫn đến sông, kênh mương càng ngày ô nhiễm” (Thông tấn xã Việt Nam, 2008). Bên cạnh đó, An Giang là một trong những tỉnh nằm trong lưu vực sông Mê Kông, với hai nhánh sông Tiền và sông Hậu chảy qua, cùng với hệ thống sông ngòi chằng chịt là nơi có hệ thống nuôi trồng thủy sản nước ngọt rất đa dạng, đặc biệt là nghề nuôi cá tra (Chau Thi Đa và ctv, 2008), và tác động của việc nuôi cá tra đến môi trường nước và hệ sinh thái đang ngày càng trở nên nghiêm trọng. Ô nhiễm môi trường nước do chất thải nuôi cá tra đã ảnh hưởng đến sản xuất, sinh hoạt, đời sống, sức khỏe người dân trong vùng và người nuôi (Tố Quyên[VTAnh1] , 2007). Do đó, cần có một số biện pháp để hạn chế chất thải từ ao nuôi cá tra ảnh hưởng đến môi trường là rất cần thiết, vì vậy mà em viết bài tiểu luận này.
2. Hiện trạng
An Giang là tỉnh nổi tiếng trong nghề nuôi cá tra dọc theo hai bờ sông Tiền và sông Hậu, cá tra là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của An Giang. Năm 2007 An Giang có gần 16.000 hộ nuôi cá tra xuất khẩu với  gần 13.300 ha, tăng 4.500 hộ so với năm 2006, số người nuôi cá tra có ao lắng xử lý nước thải trước khi đưa ra môi trường để bảo vệ môi trường nước rất ít[VTAnh2] , hầu hết đưa trực tiếp nước thải trong ao nuôi cá ra sông. An Giang gần 1.600 ha đất ao hầm nuôi cá tra, gần 90% số ao chưa có hệ thống xử lý nước thải như ở huyện Phú Tân có 1.972 hộ nuôi 2.557 ao hầm cá tra với 250 ha mặt nước, nhưng chỉ có 101 ao hầm có hệ thống xử lý nước thải, còn lại 2.456 ao hầm chưa có hệ thống xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường, chiếm 96% (Tố Quyên, 2007). Do nghề nuôi cá tra mang lại hiệu quả cao nên diện tích nuôi cá tra ao hầm đang gia tăng rất nhanh, năm 2007 đã tăng đến 4.500 hộ nuôi so với năm 2006. Mặt khác, Chau Thi Đa và ctv (2008) thì cho rằng, do nuôi cá tra bè bị lỗ nên nhiều người đã chuyển sang nuôi ao hầm và làm cho diện tích nuôi cá tra trong ao tăng lên đáng kể[VTAnh3] . Bên cạnh đó, thì người nuôi cá chỉ chú ý đến diện tích thả nuôi không quan tâm chất thải [VTAnh4] từ ao nuôi như thế nào trước khi thải ra môi trường bên ngoài nên chưa có ao xử lý nước thải và điều này làm môi trường nước xấu hơn. Mặt khác, thì tác động ô nhiễm môi trường không chỉ ảnh hưởng đến sinh hoạt đời sống, sức khỏe mà cũng ảnh hưởng đến người nuôi cá, khi nguồn nước trong ao bị ô nhiễm thải ra môi trường thì những hộ nuôi xung quanh sử dụng nguồn nước đó cung cấp trở lại cho ao của họ và làm tăng tỷ lệ hao hụt nuôi cá rất cao, hiệu quả chăn nuôi thấp. [VTAnh5] Những năm trước tỷ lệ hao hụt trong quá trình nuôi từ 7 – 9%, hiện nay đã tăng lên 30 – 40%, có nơi nguồn nước bị ô nhiễm nặng thì tỷ lệ hao hụt cá trong quá trình nuôi đến 61 -63% (Tố Quyên, 2007).
Theo Lý Thị Thanh Loan (2007[VTAnh6] ), “ô nhiễm nguồn nước mặt do nuôi cá tra đang hết sức nghiêm trọng những người nuôi cá tra đều không quan tâm đến việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải từ ao nuôi cá, tất cả xả nguồn nước ô nhiễm này ra sông rạch. Sự phát triển ồ ạt của nghề nuôi cá tra và thái độ không quan tâm xử lý nước thải để bảo vệ môi trường của người nuôi cá sẽ làm sông rạch mất khả năng tự làm sạch và ô nhiễm nghiêm trọng, trở thành những dòng sông ô nhiễm do chất thải từ cá ao cá tra”. Còn theo Nguyễn Văn Thạnh (2007[VTAnh7] ), “các hộ nuôi cá tra đều không tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường như xử lý nước cấp, nước thải, chất thải từ ao nuôi cá, không đảm bảo điều kiện vệ sinh an toàn trong nuôi trồng thủy sản nên gây ô nhiễm môi trường. Đa số những hộ nuôi cá tra hầm điều không xây dựng hệ thống ao lắng để xử lý nước trước khi cho vào ao nuôi và xử lý nước thải trước khi xả ra sông rạch” (Hùng Anh, 2007[VTAnh8] ). Qua phân tích trên cho thấy, khuynh hướng ô nhiễm môi trường nước thì càng trở nên nhiều hơn do các diện tích nuôi cá chưa có ao xử lý nước nước thải trước khi thải ra môi trường. Do đó, trong phát triển nghề nuôi cá tra sắp tới cần hướng tới vần đề môi trường và ảnh hưởng của nó, đối với những người nuôi cá tra ao hầm thì phải có ao xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường.
Do thị trường xuất khẩu được mở rộng ở ĐBSCL cũng như ở An Giang nên sản lượng cá tra nuôi các loại hình lồng bè, ao hầm, đăng quầng mỗi năm đều tăng và sự phát triển ồ ạt không theo quy hoạch làm suy thoái môi trường nước. Theo số liệu điều tra của khoa thủy sản Trường Đại học Cần Thơ (2007), một ao nuôi cá tra 1 ha cho sản lượng 300 tấn, sẽ cần 480 tấn thức ăn, trong đó 75% được chuyển hoá thành sản phẩm, còn lại 25% thức ăn dư thừa và chất thải của cá thối rữa lắng đọng dưới đáy ao và thải ra môi trường nước (Lập Chương, 2007). Theo như Chi cục bảo vệ môi trường Tây Nam Bộ, để có được 1 kg cá tra thì cần 1,5 – 2 kg thức ăn. Ngoài ra, một số kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 17% lượng thức ăn được cá hấp thụ, còn lại 83% được thải ra môi trường dưới dạng phân, chất hữu cơ dư thừa thải ra môi trường nước (Huỳnh Biển, 2007). Như vậy, nếu có 1 tấn cá tra thì cần gần 2 tấn thức ăn và có hơn 1,6 triệu tấn chất thải ra môi trường.  Đầu năm 2008 sản lượng cá tra An Giang đạt khoảng 150.000 tấn thì có khoảng 250.000 tấn chất thải được thải ra môi trường và hiện nay ngành nuôi cá tra theo công nghệ mới năng suất cao gấp 10 lần so với cách nuôi truyền thống và thịt cá nuôi trắng, có mùi thơm do phải thay nước trong ao cá nuôi liên tụ và điều này làm cho môi trường nước ở An Giang ngày càng trở nên ô nhiễm nghiêm trọng (Bộ công thương[VTAnh9] , 2008).
Hiện nay, có nhiều mô hình kết hợp từ nguồn nước thải ao cá tra mang lại hiệu rất cao như mô hình sử dụng “bùn đáy ao nuôi cá tra bón cho lúa và hoa màu’, qua nhiều thử nghiệm tại xã Phú Bình, huyện Phú Tân cho thấy, sử dụng bùn đáy ao nuôi tra bón lúa năng suất tăng từ 0,9 đến 1 tấn.ha-1, giảm được 50% lượng phân hóa học và dùng bón lót trồng khoai cao, năng suất tăng từ 9 đến 10 tấn.ha-1, làm giảm ô nhiễm môi trường từ chất thải ao nuôi cá tra (Thông tấn xã Việt Nam, 2008); “mô hình nuôi cá tra kết hợp trồng lúa 2 vụ.năm-1” mô hình này được Khưu Đức Hùng thực hiện năm 2005 tại phường Mỹ Thới, thành phố Long Xuyên. Kết quả cho thấy, nước trong ao nuôi cá tra thải ra và đưa vào ruộng tưới lúa đã giảm được 70%  lượng phân bón cho lúa và năng suất cao hơn bơm nước, bón phân bình thường từ 0,7 – 1 tấn.ha-1 vụ đông xuân và 0,6 tấn.ha-1 vụ hè thu (Thông tấn xã Việt Nam, 2008). Bên cạnh đó, theo Quốc Tuấn (2008) cho rằng mô hình trồng lúa sử dụng nước thải từ ao nuôi cá tra có tác dụng làm giảm chi phí sản xuất lúa và giảm ô nhiễm môi trường ở vùng nuôi và mô hình hình này chỉ thích hợp những nơi có ao nuôi cá gần ruộng lúa và diện tích trồng lúa phải đủ chứa lượng nước thải từ ao nuôi cá thải ra (diện tích trồng lúa gấp 20 lần diện tích ao nuôi). Điều này, cho thấy mô hình canh tác này không phải nơi nào cũng có thể áp dụng được, chỉ có thể áp dụng những nơi đáp ứng điều kiện của mô hình đó, đây chính là khó khăn để triển khai nhân rộng mô hình này nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường nước như hiện nay.
3. Một số nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước
- Theo Nguyễn Thị Thu Trang (2008) nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước là do: (i) kỹ thuật nuôi cá truyền thống sử dụng nguồn thức ăn tự chế làm cho các vật chất trong ao nuôi ngày càng tăng, (ii) lượng các hóa chất và kháng sinh sử dụng cho cá trong quá trình nuôi tăng, (iii) chưa có ao xử lý chất thải trước khi thải ra môi trường chiếm tỷ lệ cao (98% tổng số hộ nuôi).
- Những người nuôi cá thường sử dụng các hóa chất vệ sinh cải tạo ao nuôi, các vật tư chuyên dụng như vôi bột, chế phẩm sinh hóa học và các loại thuốc kháng sinh, chất kích thích tăng trưởng cá với số lượng nhiều và gây nguồn nước ngày càng trở nên ô nhiễm (Phạm Đình Đôn, 2008).
- Do người nuôi cá không tính kỹ lượng ăn của cá nên dẫn đến dư thừa trong quá trình nuôi. Đây là vấn đề thường thấy ở những người nuôi cá hiện nay (Phạm Đình Đôn, 2007). Bên cạnh đó, Chau Thi Đa và ctv (2008) cho rằng lượng chất thải từ thức ăn dư thừa và sự chuyển hóa chất thải từ của hệ thống nuôi cá sử dụng thức ăn tự chế và thức ăn tươi từ xác cá tra thì rất cao và cao gấp 9-10 lần so với hệ thống nuôi sử dụng thức ăn viên. Qua đó cho thấy, sử dụng nguồn thức ăn tự chế trong nuôi cá tra sẽ tăng lượng chất hữu cơ trong đáy ao và nguồn nước trong ao nuôi ô nhiễm nhanh hơn.
4. Một số giải pháp hạn chế ô nhiễm môi trường từ ao nuôi
Hiện nay, tình trạng ô nhiễm môi trường là vấn đề được nhiều người quan tâm, nhất là ô nhiễm môi trường do chất thải từ các ao hầm nuôi cá, ô nhiễm môi trường nước do nước thải từ nuôi cá tra ảnh hưởng đến sản xuất, sinh hoạt, đời sống, sức khỏe người dân trong vùng, đặc biệt là những người dân sử dụng nước sông làm nguồn nước sinh hoạt chủ yếu. Dưới đây, là một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường nước từ ao nuôi cá tra để đảm bảo cho đời sống người dân được tốt hơn và những người nuôi cá tra hiện nay.
- Chính quyền đại phương cần nhân rông mô hình nuôi cá kết hợp với ruộng lúa đối với những nơi có điều kiện diện tích trồng lúa và nuôi cá để có thể lấy nước từ ao nuôi cá thải ra đưa lên tưới lúa, giảm được phân bón, tiết kiệm chi phí sản xuất và không gây ô nhiễm môi trường.
- Những hộ nuôi cá cần hạn chế sử dụng nguồn thức ăn tự chế từ các phế phụ phẩm và khuyến khích sử dụng thức ăn công nghiệp trong quá trình nuôi để hạn chế thức ăn dư thừa lắng động dưới đáy ao gây ô nhiễm môi trường nuôi.
- Những hộ nuôi cá tra ao hầm phải dành diện tích ao lắng để xứ lý nước thải trong ao nuôi cá trước khi thải ra môi trường, để không gây ô nhiễm môi trường nước, với tỷ lệ 3:1 (3 ha nuôi cá thì phải có 1 ha làm ao lắng xử lý nước thải khi thải ra môi trường bên ngoài (Tố Quyên, 2007).
- Cần nhân rông mô hình nuôi cá tra kết hợp với các loại cá ăn thức ăn chìm dưới đáy như: cá he, chim trắng, cá kết và sử dụng hệ thống lọc nước. Mô hình kết hợp này sẽ xử lý được nguồn thức ăn dư thừa lắng xuống đáy ao gây ô nhiễm môi trường nước trong ao.
5. Kết luận
Nghề nuôi cá tra được xem là thế mạnh của tỉnh An Giang. Bên cạnh sự phát triển nghề nuôi cá cá tra thì vấn đề ô nhiễm môi cũng cần được quan tâm và có nhiều nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường như sử dụng nguồn thức ăn tự chế, sử dụng các hóa chất kháng sinh trong cải tạo ao, phòng trị bệnh và không có ao xử lý chất thải. Trong các nguyên nhân trên thì nguyên nhân không có ao xử lý là chủ yếu chiếm 90% diện tích nuôi cá tra trong ao.
Chính vì vậy, cần có những biện pháp thích hợp nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường như hiện nay, để thực hiện tốt vấn đề này cần kết hợp tốt giữa người nuôi và sự quản lý của chính quyền địa phương.


 [VTAnh1]Trong danh mục TLTK, Tố Quyên có 2 tài liệu cùng công bố năm 2007. Vậy đây là tài liệu nào? Trích dẫn sai nguyên tắc!

 [VTAnh2]Không có ý  nghĩa! Con số?

 [VTAnh3]Số liệu? Đây là nền tảng cho các cơ sở thảo luận, phân tích sau này, không dùng từ chung chung như thế này!

 [VTAnh4]Tại sao? Câu hỏi này của chuyên ngành PTNT đó!

 [VTAnh5]Trích dẫn

 [VTAnh6]Không có trong danh mục tài liệu tham khảo?

 [VTAnh7] [VTAnh7]Không có trong danh mục tài liệu tham khảo?

 [VTAnh8] [VTAnh8]Không có trong danh mục tài liệu tham khảo? (chỉ có 2008 thôi)

 [VTAnh9]Viết hoa, sao không thấy trong danh mục TLTK?