Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2011

Cá heo

Tỷ phú cá heo nước ngọt



Ở huyện đầu nguồn An Phú - An Giang, có một chủ bè mạnh dạn nuôi cá heo nước ngọt. Đây là loại cá có giá trị kinh tế cao gấp… 10 lần nuôi cá lóc. Và anh đã trở thành tỉ phú chỉ trong 1 năm.
Người duy nhất nuôi cá heo
Anh Bùi Chí Linh, 32 tuổi ở ấp Vĩnh Phú, xã Vĩnh Hội Đông, huyện An Phú là một trong những người đầu tiên ở vùng biên giới, nếu không muốn nói là người duy nhất ở ĐBSCL, nuôi thành công loài cá heo nước ngọt. Hiện anh đang có 10 lồng bè cá heo đang trong thời kỳ thu hoạch. Mỗi bè rộng 3m x 4 m, có thể sản xuất trên 600 kg cá thương phẩm. Nhờ có kinh nghiệm nuôi cá chình, cá chạch lấu từ nhiều năm nên khi chuyển sang nuôi cá heo, anh Linh đã nắm chắc kỹ thuật về con giống, về kích thước lồng bè và quá trình chăm sóc. Anh Linh cho biết mùa cá heo con giống xuất hiện hằng năm vào mùa lũ từ tháng 8-11 âm lịch. Chính vì lẽ đó, anh bắt đầu thu mua giống đem về thả nuôi thử năm đầu với cá chình thấy cá phát triển tốt. Khi thu hoạch lên cùng với cá chình, thấy thương lái cũng thích và thị trường cũng chấp nhận nên năm 2010 vừa rồi anh đã tranh thủ thu mua con giống từ người dân đánh bắt ngoài thiên nhiên để nuôi. Qua nhiều tháng thả nuôi, cá heo mang lại doanh thu cho anh trên 700 triệu đồng, và năm 2011 anh dự kiến lãi trên 1 tỷ đồng với 10 lồng bè hiện nay.

Những chiếc bè nuôi cá heo của anh Linh
Mùa thả cá cũng bắt đầu từ thời điểm mùa nước lũ và thu hoạch vào tháng 8 năm sau, mỗi năm chỉ nuôi có một đợt. Cái khó là con giống phải mua từ Campuchia với giá 50.000đ/kg/180 con, có những năm nước lũ thấp, không có con giống mua thả, khiến giá tăng lên từ 70-100 ngàn đồng/kg mà phải đặt trước của người dân mới có. Theo anh, cá heo dễ nuôi, tỷ lệ hao hụt không đáng kể, nhưng muốn đạt năng suất cao, người nuôi phải nắm vững kỹ thuật. Theo kinh nghiệm của anh, lồng bè phải được bao bằng 2 lớp lưới thật chắc chắn, lưới chì bên ngoài và lưới Thái Lan loại mắt nhỏ bên trong mới bảo đảm an toàn, không sợ bị thất thoát. Anh cho biết, cái khó khi nuôi cá heo hiện nay là nguồn giống chủ yếu phụ thuộc vào thiên nhiên, cái khó thứ hai là cá heo thuộc loại cá da trơn, trên đầu có 2 nanh nhọn nên chúng đào tẩu rất dễ, lồng bè chỉ cần thủng một lỗ lưới nhỏ bằng đầu ngón tay là cá có thể sổng hết nguyên đàn.
Thức ăn chính của cá heo là cám trộn với cá sống (cá biển hoặc cá sông) xay nhuyễn pha cùng với cám. Nếu có hèm rượu trộn thêm 30%, cá sẽ tăng trọng rất nhanh. Một ngày tốt nhất cho ăn 2 lần vào buổi sáng sớm và buổi chiều lúc mặt trời lặn. Về mật độ, bè nuôi từ 3mx4m, tốt nhất là nên thả 150 kg giống cho một bè (1kg giống tương đương 180 con). Nếu nuôi với mật độ dày, cá sẽ chậm lớn và tỷ lệ hao hụt sẽ cao. Sau 10 tháng nuôi, trọng lượng cá thương phẩm đạt 30con/1kg và giá bán ra hiện nay tại bè là 300.000đ/kg. Anh Linh cho biết thêm: Nếu nuôi cá heo thương phẩm cho thu hoạch vào tháng nghịch, mùa nắng, giá có thể lên đến 400.000-450.000 đồng/kg, còn tại nhà hàng lên 500.000-550.000 đồng/kg.
Theo tính toán của anh Linh, nuôi cá heo nếu thành công sẽ lời hơn nuôi bất cứ loài cá nào khác ở vùng nước ngọt.
Cho cá heo ăn bằng thức ăn cá xay và cám trộn
Cho cá heo ăn bằng thức ăn cá xay và cám trộn
Cung không đủ cầu
Năm nay giá cá heo cao hơn năm rồi từ 80-120 ngàn đồng/kg, nhưng nguồn cung không đủ cầu. Trước đây, cá heo cũng như cá linh, cá chốt, chỉ là những sản vật bình thường, ít ai quan tâm nhưng gần đây nó đã được nâng lên thành đặc sản, đặc biệt là cá heo da xanh, đuôi đỏ, cực kỳ ngon nên giá cả trên thị trường ngày càng tăng cao. Nhiều nhà hàng, quán ăn ở Long Xuyên, Châu Đốc, kể cả ở TP. HCM đã khai thác con cá heo trong mùa nước nổi để chế biến thành nhiều món ăn độc đáo, như cá heo nướng muối ớt, cá heo kho tiêu, cá heo nấu canh chua, cá heo kho lạt hoặc kho mắm chấm bông điển và bông súng… Các món này luôn được giới sành điệu ưa thích.
PGS.TS Dương Nhựt Long, Trưởng Bộ môn Kỹ thuật nuôi Thủy sản nước ngọt - Khoa Thủy sản - Trường Đại học Cần Thơ, cho biết: Nhằm tạo ra nguồn giống chủ động cung cấp cho người nuôi cá vùng ĐBSCL, năm 2010 thông qua chương trình hợp tác, tài trợ kinh phí của Sở KH - CN An Giang, cùng sự phối hợp thực hiện của Trung tâm giống Thủy sản tỉnh An Giang, và nhóm cán bộ nghiên cứu Bộ môn Kỹ thuật nuôi Thủy sản nước ngọt - Khoa Thủy sản - Trường Đại học Cần Thơ đã thực hiện thành công việc sinh sản nhân tạo cá heo nước ngọt (Botia modesta Bleeker -1865). Đây là 1 trong 8 loài cá nước ngọt thuộc giống Botia phân bố khá phổ biến ở vùng hạ nguồn sông Mêkông thuộc các nước như Thái Lan, Lào, Campuchia và vùng ĐBSCL của Việt Nam.
Kết quả bước đầu cho thấy, sức sinh sản của cá heo khá cao, dao động từ 400.000 - 500.000 trứng/kg cá. Thời gian hiệu ứng trong việc sử dụng hormone kích thích cá sinh sản từ 10 - 12 giờ. Tỷ lệ trứng thụ tinh đạt từ 50 - 57%, tỷ lệ nở đạt từ 75 - 80 %. Sau khi sinh sản thành công, sẽ chuyển sang giai đoạn ương nuôi theo hướng công nghiệp.
Thu hoạch cá heo tại bè nuôi cá của anh Linh
Thu hoạch cá heo tại bè nuôi cá của anh Linh
Cá heo nước ngọt có màu sắc đẹp, thân mình màu xanh nhạt, đuôi, vây màu đỏ, nuôi lớn có trọng lượng tối đa 100-150 gram/con. Cá cho chất lượng thịt thơm, ngon và có thể nuôi làm cá cảnh. Ông Long cho rằng: Trong những năm gần đây, nguồn cung cá heo giống tự nhiên cho các bè nuôi cá ở An Giang giảm sút, trong khi nhu cầu của các nhà hàng tăng cao, việc sinh sản nhân tạo thêm giống cá heo sẽ tạo thêm điều kiện chủ động cho người nuôi cá vùng ĐBSCL. Hiện nay, cá heo sau khi nuôi đạt kích cỡ thương phẩm 15 con/kg. Cá có thể nuôi với thức ăn viên thời gian từ 8 tháng đến 1 năm đạt 20-25 con/kg. Cũng theo ông Long, việc nghiên cứu biện pháp nuôi vỗ thành thục sinh dục cá heo và tác động hormone kích thích cá sinh sản, chủ động tạo ra con giống, cung cấp cho các mô hình ương và nuôi thương phẩm, góp phần đa dạng hóa đối tượng cùng mô hình nuôi, tạo thêm cơ hội lựa chọn đối tượng nuôi cho người dân, tạo thêm nguồn thực phẩm chất lượng cao cho xã hội, đồng thời nâng cao thu nhập cho người nuôi cá là hoạt động có ý nghĩa xã hội rất sâu rộng.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Trinh, GĐ TT giống thủy sản An Giang cho biết: mô hình nuôi cá heo là mô hình đầu tiên thực hiện thí điểm thành công của tỉnh An Giang. Hiện mô hình này hầu như chưa phổ biến nhiều trong giới nuôi cá bè, ngoại trừ trường hợp nuôi hiệu quả của anh Linh. Sắp tới đây khi việc nghiên cứu sinh sản nhân tạo thành công giống cá heo nước ngọt, có con giống chủ động, tỉnh sẽ hướng đến nuôi cá thương phẩm từ bè sang ao, theo mô hình nuôi bằng thức ăn công nghiệp tránh làm ô nhiễm môi trường, đồng thời tránh khai thác quá mức nguồn cá giống trong tự nhiên. Đây là loại cá triển vọng mang giá trị kinh tế cao gấp 10 lần so với cá lóc nuôi hiện nay. Đến cuối năm nay, Trung tâm giống An Giang sẽ cho ra thị trường trên 20.000 con cá heo giống nhân tạo để đưa xuống dân nuôi, và đến năm 2015 sẽ phát triển rộng rãi ra toàn ĐBSCL. 
Cá heo là một loài cá nước ngọt, tên khoa học là (Botia modesta Bleeker -1865) thường xuất hiện nhiều trên sông Hậu và sông Tiền. Cá heo mình hơi xanh bóng, đuôi màu đỏ cam trông rất đẹp, đầu có 2 ngạnh véo cong rất nhọn. Con lớn nhất bằng ba ngón tay và dài khoảng 1dm. Khi bắt lên khỏi mặt nước cá kêu nghe éc éc giống như tiếng heo nên mới gọi là cá heo.

 Hoàng Lê


Nuôi cá heo sông mùa nước nổi (20/08/2011)

Cá heo sông (Botia modesta Bleeker), là 1 trong 8 loài cá nước ngọt thuộc giống Botia phân bố các lưu vực hạ nguồn sông Mekong. Loài cá heo này xuất hiện cùng lúc với cá linh vào mùa nước nổi ở ĐBSCL. Chúng có màu sắc đẹp, vây đuôi đỏ, da láng không vảy, gần miệng có bộ gai bén. Thân mình có nhiều màu như xanh đậm, xanh nhạt, ánh vàng hay có sọc nâu... Thịt cá thơm ngon, lớp da và thịt tích nhiều mỡ nên ăn rất béo, được chế biến thành món đặc sản miền Tây Nam bộ.
Ông Lê Văn Hồng (xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú, An Giang) có bè nuôi cá ở Tân Châu, do “khoái khẩu” món cá này mà đến mùa nước lũ là ông “sưu tầm” về nuôi trong hồ. Sau một năm nuôi, cá đạt trọng lượng trung bình 20 - 40 g/con thì vớt lên ăn dần. Nhiều người hỏi mua giá 200.000 đồng/kg nhưng ông không chịu bán. Ông Hồng cho biết, cá heo sông dễ nuôi, chúng ăn rong tảo tầng đáy hoặc ăn mồi dư thừa từ các loài cá khác. Cá heo sông vốn sống nơi nước chảy nên nuôi bè cá lớn nhanh hơn nuôi ao. 
Anh Trần Văn Nho (xã Vĩnh Hội Đông, huyện An Phú, An Giang) nuôi cá heo trong bè cho kết quả khá tốt. Anh cho biết, tuy có khan hiếm so với nhiều năm trước nhưng khi vào giữa mùa lũ cá rộ, anh tranh thủ gom thả nuôi. Anh mua cá giống loại khoảng 300 con/kg với giá từ 30.000 - 40.000 đồng/kg, phân loại và cho vào từng ngăn riêng trong bè. Thức ăn cho cá heo là cá tạp rẻ tiền, ốc bươu vàng, cua… Cá heo miệng nhỏ nên phải xay nhuyễn rồi thả vào sàn ăn. Anh nuôi khoảng 10 - 12 tháng cá đạt trọng lượng 30 - 40 g/con (25 - 35 con/kg), nếu nuôi khoảng 6 - 8 tháng, đạt 20 - 25 g/con (40 - 50 con/kg). Cá luôn được các nhà hàng, quán ăn đặt mua, dao động từ 150.000 - 200.000 đồng/kg tùy loại và thời điểm. Cá lớn loại khoảng 15 - 20 con/kg có khi lên đến 300.000 - 350.000 đồng/kg. 
 Để đáp ứng nhu cầu nguồn cá giống cho nông dân, bộ môn kỹ thuật nuôi thủy sản nước ngọt (khoa thủy sản, ĐH Cần Thơ) phối hợp Trung tâm giống thủy sản An Giang nghiên cứu, vừa cho sinh sản nhân tạo thành công loài cá heo này. Kết quả sinh sản đạt tỷ lệ khá cao, mỗi kg cá thành thục có khả năng cho 400.000 - 500.000 trứng. Tỷ lệ trứng thụ tinh đạt 50 - 57%, tỷ lệ nở 75 - 80%. Từ thành công này (tiếp theo thành công sinh sản nhân tạo cá linh trước đây), người dân ĐBSCL sẽ có thêm loài nuôi mới, đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng, đồng thời bảo tồn một loài cá quý của sông Mekong. 
ANH ĐỨC

Nguồn: KHPT

LG st

Nhân giống thành công cá heo nước ngọt (27/06/2011)

TS Dương Nhựt Long và nhóm cán bộ nghiên cứu Bộ môn Kỹ thuật nuôi Thủy sản nước ngọt - Khoa Thủy sản – Trường Đại học Cần Thơ phối hợp với Trung tâm Giống Thủy sản tỉnh An Giang, đã thành công sinh sản nhân tạo cá heo nước ngọt (Botia modesta Bleeker).
 Đây là 1 trong 8 loài cá nước ngọt thuộc giống Botia phân bố khá phổ biến trong các lưu vực của vùng hạ nguồn sông Mê kông như: Thái Lan, Lào, Campuchia và vùng ĐBSCL (Việt Nam). Kết quả thực hiện bước đầu cho thấy trứng cá heo thành thục có đường kính trung bình 0,7 mm, sức sinh sản khá cao, dao động từ 400.000 – 500.000 trứng/kg cá. Thời gian hiệu ứng trong việc sử dụng hormone kích thích cá sinh sản từ 10 – 12 giờ. Tỉ lệ trứng thụ tinh đạt dao động từ 50 – 57% và sau cùng là tỉ lệ nở đạt từ 75 – 80%.
Cá heo có chất lượng thịt thơm, ngon, béo ngậy nên được người dân trong vùng ưa thích với các món ăn rất đặc trưng của vùng sông nước ĐBSCL như món cá kho tiêu ăn với cơm cháy, cá nướng muối ớt… Bên cạnh giá trị cao về mặt chất lượng thương phẩm, cá heo có màu sắc đẹp, mình màu xanh nhạt, đuôi, vây màu đỏ rất đẹp nên được chọn làm đối tượng được thuần dưỡng để trở thành cá cảnh. 
Tuy nhiên, những năm gần đây khi cá heo trở thành món ăn đặc sản, sức hút cá thương phẩm không đáp ứng đủ nhu cầu từ các nhà hàng. Một số chủ bè nuôi cá ở An Giang bắt đầu nuôi loài cá này. Song nguồn cá heo giống tự nhiên đang cạn kiệt dần. Hiện nay, cá heo sau khi nuôi đạt kích cỡ thương phẩm 15 con/kg giá bán tại bè 350.000 đồng/kg. Cá có thể nuôi với thức ăn viên thời gian từ 8 tháng đến 1 năm đạt 20-25 con/kg, bán tại các các nhà hàng lên tới 400.000-500.000 đồng/kg.
Việc sinh sản nhân tạo thêm giống cá heo sẽ tạo thêm điều kiện chủ động cho người nuôi cá vùng ĐBSCL có thêm sự lựa chọn gia tăng giá trị với đối tượng nuôi thủy sản mới.
HỮU ĐỨC  

Nguồn: NNVN

LG (st)

Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2011

Kỹ thuật nuôi cá thác lác



Kỹ Thuật Cơ Bản Nuôi Cá Thát Lát Cườm


Cá thác lác còm là loài cá có thịt ngon, giá trị kinh tế cao chính vì điều đó cho nên trong những năm gần đây người dân nuôi cá vùng ngọt hoá ở hai huyện Phước Long và Hồng Dân của tỉnh Bạc Liêu đang phát triển và nhân rộng đối tượng nuôi này rất nhanh.
ky-thuat-co-ban-nuoi-ca-that-lat-com
Riêng đối với huyện Phước Long năm 2006 chỉ có khoảng hơn 20 hộ thả nuôi cá thác lác còm trên ruộng lúa thì đến nay đã có khoảng gần 200 hộ thả nuôi theo mô hình này.
Đặc biệt có hộ ông Nguyễn Thành Đông ngụ tại ấp Long Thành, thị trấn Phước Long đã mạnh dạn đầu tư nuôi cá thác lác còm theo hình thức nuôi công nghiệp. Ông bắt đầu nuôi cá nước ngọt trên ruộng lúa từ năm 2000, những năm đầu chỉ thả nuôi cá trắm cỏ, cá chép, rô đồng… Năm 2006, nhìn thấy giá trị của cá thác lác còm ông đã thả nuôi thử khoảng 200 con thì thấy hiệu quả kinh tế cao nên từ đó ông bắt đầu thả nuôi trên ruộng lúa. Nuôi trên ruộng lúa cá sẽ lớn nhanh, chi phí đầu tư giảm nhờ tận dụng được nguồn thức ăn tự nhiên như phiêu sinh vật, cá, tép, ốc nhỏ, sinh vật đáy…
Đầu năm 2009 ông Đông đã mạnh dạn đầu tư 2 ao nuôi theo hình thức công nghiệp, với diện tích mỗi ao là 500m2. Hai ao này ông thả 5.000 con giống. Với chi phí giống khoảng 2,5ngàn/con loại chiều dài khoảng 3-5 phân được mua từ tỉnh Hậu Giang. Ông dự đoán năm nay ông sẽ bắt khoảng 4 tấn cá. Với giá bán độ chừng 38 ngàn/kg, sau khi trừ chi phí cải tạo, giống, thức ăn và công chăm sóc ông dự đoán sẽ lãi trên 100 triệu đồng.
Kỹ thuật nuôi cá thác lác cũng không khó. Sau đây là một số lưu ý nuôi cá thác lác còm trong ao nuôi thâm canh:
*Chuẩn bị ao nuôi:
Ao nuôi cá thác lác còm tốt nhất là gần nguồn sông chính, để có thể cung cấp nước ngọt dễ dàng. Ao cần có bờ chắc chắn. Tuỳ cỡ ao lớn nhỏ mà đặt khoảng 2-3 ống bọng để cấp, thoát nước. Diện tích ao nuôi tốt nhất từ 200-500m2, độ sâu từ 0,8-1,2m, nhiệt độ nước thích hợp 26-30oC, độ pH 7-8,5, lượng ô xy hoà tan lớn hơn hoặc bằng 3mg/lít.
*Cải tạo ao nuôi:
Trước khi nuôi cần phải dọn cỏ bờ, tát cạn nước, vét hết lớp bùn đáy, bón vôi với lượng 10-15kg/100m2, phơi khô đáy ao khoảng 1 tuần, cho nước vào khoảng 5-7 ngày mới thả cá giống, nước cần phải qua lưới lọc để ngăn cá tạp và cá dữ, dùng rễ dây thuốc cá diệt cá tạp với liều lượng 3kg/100m2. Có thể bón lót phân chuồng để tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho cá giống với liều lượng 15-20kg/100m2.
* Chuẩn bị giống:
Chọn mua giống ở cơ sở uy tín, kích thước đồng đều (cỡ 3-5 phân), không bị xây xát. Cá khoẻ tập trung thành từng nhóm, núp trong giá thể, không bơi rời rạc.
* Thả cá:
Nên thả vào sáng sớm hoặc chiều mát. Trước khi thả cần ngâm bao đựng cá trong ao 15-20 phút để cá không bị sốc do nhiệt độ môi trường và nước ao thay đổi. Trong ao cần đặt một số giá thể cho cá trú và nên thả cá ở những vị trí này; cá mới thả thường tập trung quanh giá thể nên dễ quan sát và theo dõi. Mật độ thả 5-10 con/m2, có thể thả nuôi ghép cá sặc rằn, cá hường với mật độ từ 3-5 con/m2.
* Cho cá ăn:
Cho ăn cá, tép vụn băm nhỏ hoặc cho cá, tép nhỏ còn sống vào ao. Cá mồi phải được rửa sạch, băm nhỏ hoặc có thể xay nhỏ và trộn với chất kết dính từ 1-2% để thức ăn không bị rã. Thức ăn cần vo thành viên, đặt trên sàn để theo dõi, điều chỉnh lượng thức ăn hàng ngày. Cho cá ăn 2 lần/ngày. Do cá hoạt động mạnh vào ban đêm nên buổi sáng chỉ cho ăn 1/3 khẩu phần, buổi chiều cho ăn 2/3 khẩu phần. Lượng thức ăn hàng ngày bằng 15-20% trọng lượng cá lúc 1-3 tháng và 5-10% đối với cá 3-10 tháng. Cũng có thể cho cá ăn bột tấm, cám trộn với bột cá với tỷ lệ 30% bột cá + 70% bột tấm, cám.
* Chăm sóc:
Tuỳ theo màu nước của ao mà có chế độ thay nước, lượng nước thay mỗi lần là 1/3. Thường xuyên bổ sung vitamin C và men tiêu hoá cho cá. Thỉnh thoảng trộn tỏi vào thức ăn theo liều lượng 50-100g/10 kg thức ăn, cho ăn liên tục trong 3 ngày.
Nếu chăm sóc tốt, sau một năm cá có thể đạt trọng lượng 800-1.000g/con, có thể thu hoạch.
Kỹ thuật nuôi cá thác lác còm cũng không thật sự quá khó đối với bà con nuôi cá nước ngọt. Điều quan trọng nhất là bà con phải có tâm huyết và nắm vững các biện pháp kỹ thuật cơ bản thì thành công sẽ đến như mong đợi.

Kỹ thuật nuôi cá lóc thương phẩm

I. Nuôi trong giai đặt ở ao đất
1. Mùa vụ
Mùa vụ nuôi phụ thuộc vào việc sản xuất con giống. Nguồn cá giống phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, thông thường nguồn cá giống xuất hiện tập trung vào tháng 7 – 8. Do vậy, mùa vụ nuôi cũng tập trung vào những tháng này.
2. Kích cỡ giống và mật độ nuôi
Cần chọn lựa giống có kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh, không bị sây sát, không bị mất nhớt. Cá giống cần đạt kích cỡ 20 – 30g/con. Mật độ thả 70 – 90 con/m2.
3. Thức ăn cho cá
Cá lóc là loài ăn động vật, cá có thể sử dụng nhiều loại thức ăn như: cá, tép, ếch nhái….Trong quá trình nuôi có thể tập cho cá quen dần với thức ăn tự chế với nguồn nguyên liệu là cá tạp, tấm, cám, bắp….hoặc thức ăn công nghiệp. Khẩu phần ăn cho cá có thể định lượng theo bảng sau:
Bảng: Khẩu phần thức ăn cho cá lóc (% so với trọng lượng cá thả nuôi)
Kích cỡ cá giống (g/con)
Khẩu phần thức ăn (%)
< 10
10 – 12
10 – 20
8 – 10
20 – 30
5 – 8
30 – 50
5 – 8
50 – 100
5 – 8
> 100
5
4. Cho cá ăn
Trong giai đoạn đầu thả giống, do kích thước cá còn nhỏ, thức ăn cần được xay nhuyễn, khi cá lớn thức ăn không cần xay nhuyễn và được cung cấp cho cá trong giai hoặc ao nuôi qua sàn ăn.
Máy xay thức ăn cho cá

(Cá tạp làm thức ăn)

5. Chăm sóc và quản lý
Việc chăm sóc và quản lý được tiến hành thường xuyên như kiểm tra hệ thống dây- lưới, theo dõi hoạt động của cá, vệ sinh giai….
II. Nuôi cá lóc trong ao đất
1. Chuẩn bị ao
Diện tích ao nuôi trung bình từ 100 – 1.000m2. Ao nuôi được cải tạo và vệ sinh trước khi nuôi. Dùng lưới hoặc đăng tre chắn xung quanh để phòng tránh cá nhảy ra ngoài. Mật độ thả cá 30 – 50 con/m2.
2. Cho cá ăn và quản lý
Thức ăn dùng cho cá nuôi trong ao đất tương tự như thức ăn cho cá nuôi trong giai. Thức ăn được đặt trong sàn cho cá ăn.
III.  Nuôi trên bể lót bạt
1. Chuẩn bị bể
Tùy theo diện tích của mỗi hộ gia đình mà xây dựng bể có quy mô khác nhau.
- Vị trí đặt bể nên bố trí gần sông để thuận tiện cho việc thay nước, nên xây dựng bể lót bạt để chi phí đầu tư thấp và thuận tiện cho việc thay đổi thiết kế sau này nhất là chuyển đổi đối tượng nuôi khác.
- Bể thường được xây dựng theo hình chữ nhật, chiều cao bể khoảng 1,2m. Dùng tràm để làm các trụ, rào đăng tre xung quanh, trải bạt nhựa màu tối để tạo điều kiện sống gần giống như tự nhiên và sử dụng lưới cước rào trên mặt bể để tránh cá nhảy ra ngoài. Đáy bể nên thiết kế sao cho nghiêng về một phía để dễ dàng tháo nước. Đặt cống thoát nước sát đáy bể và đầu cống có lưới chắn để không cho cá ra ngoài.
- Mực nước trung bình trong bể là từ 0,8 – 1m.
- Cần có hệ thống máy bơm nước để cung cấp nước khi cần thay nước.
2. Cho ăn và quản lý
Thức ăn dùng cho cá nuôi trong ao đất giống như thức ăn cho cá nuôi trong giai và ao đất. Thức ăn được đặt trong sàn ho cá ăn.
3. Xử lý môi trường nước trong bể nuôi
Cá lóc nuôi trên bể môi trường nước rất dễ nhiễm bẩn cần được thay nước thường xuyên. Lúc cá còn nhỏ số lần thay nước sẽ ít hơn so với cá lớn. Định kỳ xử lý vôi cho nguồn nước trong bể nuôi từ 7 - 10 ngày/lần với 2 - 3kg vôi/100m3. Trong quá trình nuôi nếu có hiện tượng nhiễm nấm, ký sinh trùng nên dùng các hóa chất diệt ký sinh trùng như Fresh water ( Cty Vemedim, Cần Thơ)….liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất để xử lý rất hiệu quả. 
IV. Nuôi ghép
1. Nuôi ghép với cá Rô phi
Dùng cá Rô phi làm thức ăn cho cá lóc. Mật độ thả 0,5 – 1 con/m2. Qua 4 tháng nuôi cá giống cỡ 80 – 100g/con đạt trung bình 350g/con. Tính trung bình cứ 4kg cá Rô phi con được 1 kg cá lóc thịt.
2. Nuôi ghép với cá nuôi khác
Có thể nuôi ghép cá lóc với cá mè, trôi, chép,.....Thức ăn và liều lượng cho ăn tuỳ thuộc vào mật độ nuôi cũng như tỉ lệ ghép với loài cá khác sao cho đảm bảo cá lóc tăng trưởng tốt và không ảnh hưởng đến sinh trưởng của cá khác.
VI. Phòng và trị bệnh cho cá
- Cá ương giai đoạn dưới 25 ngày tuổi: Bệnh thường gặp là bệnh do ký sinh trùng   Để phòng bệnh cần định kỳ sát trùng ao nuôi 15 ngày/lần. Sử dụng vôi bột với liều lượng 3 – 4 kg/100m3, vôi được hòa tan, lóng trong và lấy nước tạt khắp ao hoặc sử dụng Fresh water (Cty Vemedim Cần Thơ).
- Cá ương giai đoạn trên 25 ngày tuổi: Bệnh thường gặp là bệnh viêm ruột do giai đoạn này cá chuyển thức ăn. Rửa thức ăn bằng muối hột, trộn thuốc Sunfadimezin: 2g + Vitamine C: 1g /1kg thức ăn cho cá ăn liên tục 3 ngày mỗi tháng. Định kỳ tạt nước vôi khắp ao.
- Cá giai đoạn nuôi thịt: Bệnh thường gặp là bệnh viêm ruột, ghẻ lở, rận cá. Sử dụng Sunfadimezin: 20g + Oxytetra 5g/100kg cá. Dùng liên tục trong 6 ngày. Định kỳ tạt nước vôi khắp ao. 
VII. Thu hoạch
Sau 5 – 6 tháng nuôi cá đạt trọng lượng trung bình 0,8Kg – 1kg/con. Trước khi thu hoạch 1 – 2 ngày không nên cho cá ăn nhằm hạn chế cá chết trong quá trình vận chuyển. Khi thu hoạch có thể dùng vợt để hạn chế sây sát.
Tháo nước ra chỉ còn 40 – 50 cm, lấy lưới kéo đánh bắt dần. Sau đó tát cạn để thu họch toàn bộ.